Khai thác tiềm năng, thế mạnh về khí hậu, thổ nhưỡng, xã Chiềng Mai đang triển khai các giải pháp đẩy mạnh phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người dân.
Xã Chiềng Mai được thành lập trên cơ sở sáp nhập các xã: Chiềng Dong, Chiềng Ve, Chiềng Kheo, Chiềng Mai và Chiềng Ban trước đây. Sau khi sáp nhập, diện tích sản xuất nông nghiệp của xã được mở rộng. Địa hình tương đối bằng phẳng, có tuyến quốc lộ 4G và tỉnh lộ 117 đi qua, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất theo hướng tập trung, quy hoạch vùng cây trồng phù hợp. Đặc biệt, hệ thống thủy lợi của xã cơ bản được đầu tư, với 3 hồ chứa và trên 80% kênh mương được kiên cố hóa. Nguồn nước ổn định quanh năm, bà con tích cực sản xuất; bước đầu hình thành một số vùng cây ăn quả ứng dụng công nghệ cao, vùng rau màu, vùng nguyên liệu mía, cà phê tập trung.
Ông Nguyễn Hải Sơn, Chủ tịch UBND xã Chiềng Mai, cho biết: Xã đã đẩy mạnh tuyên truyền, vận động bà con thay đổi tư duy sản xuất, từng bước chuyển từ làm nông nghiệp tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa tập trung. Phối hợp với cơ quan chuyên môn mở các lớp tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật, hướng dẫn bà con lựa chọn các cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế đưa vào sản xuất; chỉ đạo các tổ chức hội, đoàn thể tích cực đồng hành cùng người dân trong phát triển kinh tế.
Cà phê là cây trồng chủ lực của xã Chiềng Mai, với trên 3.790 ha. Nhiều năm nay, loại cây này đã giúp bà con đổi đời. HTX Nông nghiệp Phiêng Quài, bản Phiêng Quài Tong Chinh, có 32 ha cà phê của các hộ đồng bào Thái, nằm giữa vùng lõi cà phê của xã Chiềng Ban trước đây. Vụ thu hoạch vừa qua, HTX thu được 600 tấn quả.
Phấn khởi về thành quả của vụ sản xuất vừa qua được mùa, được giá, anh Lò Văn Kiếm, thành viên HTX, cho biết: Gia đình có 3 ha cà phê; trước đây canh tác chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, ít đầu tư nên năng suất, chất lượng thấp. Từ khi tham gia HTX, các hộ đều được tập huấn kỹ thuật canh tác bền vững, trồng giống mới chất lượng cao, xen canh bơ, mắc ca để giảm tác động của thời tiết, chăm sóc theo hướng an toàn, hữu cơ. Vụ vừa qua, năng suất cà phê của gia đình đạt 20 tấn/ha; với giá bán trung bình 28.000 đồng/kg, tăng gần 10.000 đồng so với năm trước, mang lại thu nhập ổn định.
Còn tại bản Áng Ưng, nhiều hộ dân đã mạnh dạn đưa vào trồng thử nghiệm và thành công với mô hình trồng nấm thương phẩm. Là hộ đầu tiên đưa cây nấm vào trồng trên địa bàn, anh Vì Văn Bình đã tận dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp như lõi ngô, rơm rạ sẵn có để sản xuất nấm sò. Với kiến thức được học qua các lớp tập huấn, anh Bình đã nghiên cứu thành công giống, công thức giá thể và quy trình trồng nấm trong môi trường tự nhiên.
Dẫn chúng tôi thăm xưởng sản xuất nấm, anh Bình cho biết: Sau khi thử nghiệm thành công, tôi đã đứng ra thành lập Công ty cổ phần Phát triển nông nghiệp Sơn La, chuyên sản xuất nấm thương phẩm. Đồng thời, tiếp tục nghiên cứu, tối ưu quy trình sản xuất theo hướng tiết kiệm, hiệu quả, vận hành theo mô hình khép kín; ủ bã nấm sau thu hoạch thành phân hữu cơ để tái phục vụ sản xuất, làm phân bón cho cây trồng, hạn chế chất thải nông nghiệp ra môi trường.
Hiện nay, Công ty có 3 cơ sở sản xuất, với quy mô 2,5 ha, sản lượng bình quân đạt 100 tấn nấm/năm, doanh thu trên 4 tỷ đồng/năm. Toàn bộ sản phẩm được tiêu thụ tại các chợ đầu mối trên địa bàn tỉnh. Công ty đang tạo việc làm thường xuyên cho 10 lao động địa phương, với mức thu nhập từ 4–8 triệu đồng/người/tháng.
Song song với trồng trọt, xã Chiềng Mai chú trọng phát triển chăn nuôi theo hướng hàng hóa, hình thành chuỗi khép kín. Hiện nay, tổng đàn đại gia súc của xã đạt gần 22.100 con, gia cầm trên 200.000 con, với nhiều mô hình chăn nuôi an toàn, tập trung, quy mô trang trại. Gần đây, mô hình nuôi bò 3B vỗ béo theo hướng an toàn sinh học đang mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nhiều hộ nông dân ở Chiềng Mai.
Trong đó, chị Phạm Thị Hằng, thôn 2 Hoàng Văn Thụ, xã Chiềng Mai, là một trong những điển hình tiêu biểu khi mạnh dạn đầu tư nuôi bò 3B với quy mô lớn, áp dụng khoa học kỹ thuật. Trên khu đồi rộng hơn 5 ha, trang trại bò 3B của gia đình chị Hằng được quy hoạch khoa học, phân khu rõ ràng: khu nuôi nhốt, khu chế biến thức ăn, khu xử lý chất thải và khu trồng cỏ. Điểm khác biệt giúp mô hình nuôi bò của gia đình luôn ổn định, hiệu quả là thực hiện nghiêm quy trình chăn nuôi an toàn sinh học.
Chị Hằng cho hay: Ban đầu, tôi chỉ dám nuôi vài con, nhưng nhận thấy giống bò 3B dễ nuôi, lớn nhanh, chất lượng thịt tốt, giá bán ổn định nên mạnh dạn mở rộng quy mô. Đến nay, trang trại luôn duy trì 150 con bò; với giá bán dao động từ 85.000–95.000 đồng/kg hơi, mỗi năm gia đình xuất bán khoảng 60 con bò 3B, thu lãi khoảng 400 triệu đồng.
Về bản Dăm Hoa, mô hình nuôi vịt bản đang mở ra hướng phát triển kinh tế mới cho người dân xã Chiềng Mai. Là một trong những hộ nuôi vịt lâu năm, từ nguồn vốn vay Ngân hàng Chính sách xã hội, bà Lò Thị Lả đã đầu tư chuồng trại, gây giống và mở rộng quy mô chăn nuôi. Mỗi năm, gia đình xuất bán hơn 2.000 con vịt, thu nhập gần 150 triệu đồng. Bà Lả chia sẻ: Vịt bản dễ nuôi, thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên; thức ăn chủ yếu là phụ phẩm nông nghiệp nên chi phí thấp. Gia đình tận dụng ao, hồ, mặt nước tự nhiên để chăn thả vịt thương phẩm, kết hợp cho ăn ngô bột, cám gạo nên thịt săn chắc, được thị trường ưa chuộng, mang lại thu nhập ổn định, góp phần giữ gìn giống vịt bản địa.
Phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hóa, gắn với sản xuất tuần hoàn, an toàn, tập trung đã góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế. Nhờ đó, sản xuất nông nghiệp của xã Chiềng Mai có bước phát triển rõ rệt. Đến nay, thu nhập bình quân đầu người đạt trên 40 triệu đồng/người; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 23%. Khi người dân thay đổi tư duy, chính quyền định hướng đúng, doanh nghiệp và HTX đồng hành, nông nghiệp trở thành nền tảng cho sự phát triển toàn diện của địa phương.
-restored-copy.jpg)
Bạn còn 500/500 ký tự
Bạn vui lòng nhập từ 5 ký tự trở lên !!!