Sơn La sở hữu những vùng nguyên liệu nông sản quy mô lớn hàng đầu cả nước, từ cây ăn quả, cà phê Arabica, mía đến chè Shan tuyết, tạo lợi thế nổi bật cho nền nông nghiệp. Phát triển công nghiệp chế biến gắn với ứng dụng công nghệ cao được tỉnh xác định là khâu đột phá, góp phần chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của nông sản Sơn La trên thị trường trong nước và quốc tế.
Đột phá từ vùng nguyên liệu
Lợi thế lớn nhất là hệ thống vùng nguyên liệu tập trung với quy mô lớn, với trên 85.000 ha cây ăn quả và cây sơn tra, hơn 33.600 ha cà phê Arabica, gần 9.000 ha mía nguyên liệu, cùng hàng nghìn héc-ta chè Shan tuyết và chè chất lượng cao. Đây là nền tảng để hình thành các chuỗi liên kết sản xuất, thu hút doanh nghiệp đầu tư chế biến, từng bước nâng cao giá trị nông sản.
Ở xã Tà Xùa, nơi những cây chè Shan tuyết cổ thụ hàng trăm năm tuổi vẫn vươn mình giữa mây núi, câu chuyện ứng dụng công nghệ bắt đầu từ việc gìn giữ những giá trị nguyên bản của vùng nguyên liệu. Năm 2017, sản phẩm chè Tà Xùa được cấp chứng nhận nhãn hiệu tập thể; đến năm 2019, quần thể 200 cây chè cổ thụ được công nhận là Cây Di sản Việt Nam. Hai dấu mốc quan trọng không chỉ khẳng định giá trị của vùng chè mà còn mở ra hướng phát triển mới, đưa sản phẩm đặc hữu của vùng cao bước vào thị trường bằng chất lượng, bản sắc và công nghệ chế biến.
Được giao quản lý và phát triển nhãn hiệu tập thể chè Tà Xùa, Công ty TNHH Trà và Đặc sản Tây Bắc đã xây dựng mô hình liên kết chặt chẽ với người dân địa phương. Nguyên liệu được thu mua ngay tại vùng chè, chế biến trực tiếp tại Tà Xùa nhằm giữ trọn hương vị đặc trưng, đồng thời bảo đảm truy xuất nguồn gốc từ khâu thu hái đến thành phẩm.
Nếu trước đây người dân chủ yếu sao chè bằng phương pháp thủ công, phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm, thì nay quy trình sản xuất được hỗ trợ bởi dây chuyền thiết bị hiện đại. Các công đoạn làm héo, diệt men, vò, sấy khô đều được kiểm soát chặt chẽ về nhiệt độ và thời gian, giúp giữ được hương thơm tự nhiên, màu nước và hàm lượng hoạt chất trong chè, đồng thời đáp ứng các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm và chất lượng xuất khẩu.
Ông Phạm Vũ Khánh, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH Trà và Đặc sản Tây Bắc, cho biết, doanh nghiệp đã xây dựng vùng nguyên liệu khoảng 200 ha, liên kết với 170 hộ dân, tạo việc làm thường xuyên cho hàng chục lao động địa phương và hàng trăm lao động thời vụ. Các sản phẩm chè Shan tuyết cổ thụ không chỉ tiêu thụ rộng rãi trong nước mà còn từng bước tiếp cận thị trường quốc tế thông qua các nền tảng thương mại điện tử xuyên biên giới.
Từ những búp chè cổ thụ của vùng cao, công nghệ đã góp phần tạo nên những sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn nhiều lần so với nguyên liệu thô. Đây cũng là hướng đi mà nhiều doanh nghiệp chế biến nông sản trên địa bàn tỉnh đang theo đuổi.
Nếu chè Tà Xùa là minh chứng cho việc kết hợp giữa giá trị bản địa với công nghệ hiện đại để tạo nên sản phẩm mang bản sắc riêng, thì ngành mía đường Sơn La lại cho thấy hiệu quả của việc đầu tư đồng bộ dây chuyền chế biến gắn với mô hình kinh tế tuần hoàn và phát triển xanh. Công ty CP Mía đường Sơn La có vùng nguyên liệu khoảng 9.000 ha, niên vụ 2025-2026, doanh nghiệp tiếp tục đưa vào vận hành nhiều hạng mục thiết bị hiện đại như hệ thống nồi nấu đường tự động công suất lớn, máy ly tâm tự động và hệ thống điều khiển thông minh. Việc tự động hóa các công đoạn sản xuất giúp kiểm soát chính xác các thông số kỹ thuật, nâng cao năng suất, giảm tiêu hao năng lượng và bảo đảm chất lượng sản phẩm. Quy trình sản xuất theo mô hình kinh tế tuần hoàn: Bã mía được sử dụng làm nhiên liệu cho hệ thống lò hơi; tro và bùn lọc sau xử lý được sản xuất thành phân bón hữu cơ phục vụ vùng nguyên liệu. Hai hệ thống xử lý nước thải với tổng công suất gần 3.000 m³/ngày đêm giúp nước sau xử lý được tuần hoàn tái sử dụng trong nhà máy. Cùng với đó, hệ thống quan trắc khí thải tự động, camera giám sát và công nghệ xử lý bụi hiện đại góp phần giảm phát thải, bảo vệ môi trường.
Ông Nguyễn Văn Tài, Giám đốc Nhà máy chế biến đường, chia sẻ, cùng với đầu tư công nghệ, doanh nghiệp luôn bám sát vùng nguyên liệu, phối hợp với chính quyền địa phương hướng dẫn người dân áp dụng giống mới, cơ giới hóa khâu làm đất, chăm sóc và thu hoạch, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng mía, bảo đảm nguồn nguyên liệu ổn định cho nhà máy.
Vùng mía đường tập trung ổn định, vùng chè chất lượng cao rộng lớn ở cao nguyên Mộc Châu, Vân Hồ, Thuận Châu là những minh chứng rõ nét về hiệu quả của ứng dụng công nghệ trong chế biến, thì cà phê Sơn La lại phản ánh rõ nhất bài toán nâng cao giá trị gia tăng của nông sản địa phương.
Sơn La hiện có hơn 33.600 ha cà phê Arabica, chiếm gần một nửa diện tích cà phê Arabica của cả nước, trở thành vùng sản xuất lớn nhất Việt Nam. Chỉ dẫn địa lý "Cà phê Sơn La" đã được bảo hộ; sản phẩm có mặt tại hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ. Riêng năm 2025, kim ngạch xuất khẩu cà phê đạt trên 112 triệu USD, chiếm gần một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn tỉnh.
Những năm gần đây, tỉnh đã thu hút thêm nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển các sản phẩm chế biến sâu như Công ty CP Phúc Sinh Sơn La, Công ty CP Chế biến cà phê Sơn La, Công ty CP Cà phê Detech, HTX Bích Thảo, HTX Ara-Tay Coffee... Tiêu biểu là Công ty CP Phúc Sinh Sơn La với dây chuyền sản xuất trà Cascara từ vỏ quả cà phê chín. Thay vì trở thành phụ phẩm sau chế biến, vỏ quả cà phê được lên men, sấy và chế biến theo quy trình kiểm soát nghiêm ngặt để tạo ra dòng sản phẩm có giá trị kinh tế cao.
Hiện nay, Sơn La đã hình thành 5 doanh nghiệp, HTX đầu tư chế biến sâu cà phê, phát triển các chuỗi liên kết với hàng nghìn héc-ta vùng nguyên liệu; từng bước mở rộng sản xuất cà phê hữu cơ, cà phê đặc sản và nhiều sản phẩm OCOP từ cà phê. Tuy nhiên, nếu đặt trong tương quan với quy mô vùng nguyên liệu lớn nhất cả nước thì con số này vẫn còn khá khiêm tốn.
Mở đường cho chế biến sâu
Theo đánh giá của Sở Công Thương, năng lực chế biến hiện nay của tỉnh Sơn La chưa tương xứng với tiềm năng sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Toàn tỉnh có 50 cơ sở, nhà máy chế biến phục vụ xuất khẩu đang hoạt động; tuy nhiên pần lớn các cơ sở mới dừng ở sơ chế hoặc chế biến ban đầu, tỷ lệ sản phẩm chế biến sâu còn thấp, nhất là đối với các ngành hàng có lợi thế như cà phê, trái cây và chè. Đây là nguyên nhân khiến giá trị gia tăng của nhiều sản phẩm chưa cao, sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế còn hạn chế.
Để phát triển công nghiệp chế biến theo chiều sâu, khó khăn lớn nhất hiện nay không chỉ là vốn đầu tư cho dây chuyền công nghệ hiện đại, còn là việc xây dựng vùng nguyên liệu ổn định, đáp ứng truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững. Bên cạnh đó, chi phí logistics cao; hệ thống kho lạnh, bảo quản sau thu hoạch và trung tâm logistics chuyên dụng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển quy mô lớn; liên kết sản xuất chưa thực sự bền vững...
Tháo gỡ những "điểm nghẽn" đó, ngoài nỗ lực của doanh nghiệp, rất cần các cơ chế đủ mạnh về thu hút đầu tư, phát triển hạ tầng công nghiệp, logistics, tín dụng và xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn. Đây cũng là định hướng mà tỉnh Sơn La đang tập trung triển khai, nhằm đưa công nghiệp chế biến trở thành động lực nâng cao giá trị nông sản và sức cạnh tranh của kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn mới.
Xác định công nghiệp chế biến là một trong những trụ cột của nền kinh tế nông nghiệp hiện đại, tỉnh Sơn La đang tập trung triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, thu hút doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực chế biến nông sản ứng dụng công nghệ cao. Bên cạnh phát triển vùng nguyên liệu tập trung, xây dựng các chuỗi liên kết sản xuất bền vững, tỉnh ưu tiên hoàn thiện hạ tầng khu, cụm công nghiệp, cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi nhất để doanh nghiệp triển khai dự án.
Đồng chí Nguyễn Thành Công, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, cho biết: Tỉnh xác định công nghiệp chế biến nông sản là lĩnh vực ưu tiên; các dự án chế biến công nghệ cao được áp dụng cơ chế "luồng xanh"; lãnh đạo UBND tỉnh trực tiếp chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục; ưu tiên phát triển vùng nguyên liệu gắn với doanh nghiệp và mở rộng thị trường xuất khẩu.
Theo định hướng của tỉnh, mục tiêu là hình thành hệ sinh thái chế biến nông sản hiện đại, tạo ra nhiều sản phẩm tinh chế, chế biến sâu, đáp ứng tiêu chuẩn của các thị trường xuất khẩu lớn. Song song với đó là thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc, phát triển nông nghiệp tuần hoàn, giảm phát thải và sử dụng hiệu quả phụ phẩm nông nghiệp.
Trong bối cảnh các hiệp định thương mại tự do mở ra nhiều cơ hội, cùng với xu hướng tiêu dùng xanh, tiêu dùng bền vững trên thế giới, việc đầu tư vào công nghệ chế biến sâu không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu tất yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam nói chung và Sơn La nói riêng. Đây cũng là chìa khóa để nông dân không chỉ bán sản phẩm, mà còn bán giá trị, thương hiệu và câu chuyện của vùng đất.
-restored-copy.jpg)
Bạn còn 500/500 ký tự
Bạn vui lòng nhập từ 5 ký tự trở lên !!!