Khai thác lợi thế mặt nước các hồ thủy điện, Sơn La đang từng bước đưa khoa học - công nghệ vào nuôi trồng thủy sản, từ sản xuất con giống, kiểm soát môi trường nước, đến cải tiến lồng nuôi và quy trình chăm sóc. Qua đó, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị sản phẩm, hướng nghề nuôi thủy sản phát triển theo hướng an toàn, bền vững.
Đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất
Nâng hiệu quả sản xuất, các cơ sở nuôi thủy sản trên địa bàn tỉnh chú trọng lựa chọn đối tượng nuôi phù hợp, chủ động nguồn giống và áp dụng các giải pháp kỹ thuật trong từng công đoạn sản xuất. Tại xã Mường La, Công ty TNHH MTV Cá tầm Việt Nam - Sơn La là một trong những đơn vị phát triển nghề nuôi cá tầm trên vùng lòng hồ thủy điện Sơn La. Hiện Công ty vận hành 265 lồng nuôi và 70 bể ương cá giống, mỗi năm cung ứng gần 300 tấn cá tầm thương phẩm ra thị trường.
Dẫn chúng tôi tham quan khu vực nuôi cá, anh Mai Tuấn Anh, kỹ sư Công ty Cá tầm Việt Nam tại Sơn La, cho biết: Năm 2017, Công ty phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ thực hiện thành công quy trình ấp nở, ương nuôi cá tầm giống nhân tạo. Từ khâu lựa chọn cá bố mẹ, ấp trứng đến chăm sóc cá giống đều được thực hiện theo quy trình kỹ thuật, kiểm soát chặt chẽ các điều kiện môi trường. Tỷ lệ sống của cá giống đạt trên 75%, giúp Công ty chủ động nguồn giống, giảm phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài và đáp ứng nhu cầu nuôi với quy mô lớn.
Trong quá trình nuôi, các chỉ số môi trường nước như nhiệt độ, độ pH được theo dõi thường xuyên để điều chỉnh chế độ chăm sóc, cho ăn phù hợp. Đặc biệt, với cá tầm là đối tượng nhạy cảm với nhiệt độ, việc kiểm soát môi trường được thực hiện thường xuyên, giúp cá sinh trưởng ổn định và hạn chế rủi ro trong quá trình nuôi, nhất là khi thời tiết thay đổi.
Bên cạnh lựa chọn con giống phù hợp, các cơ sở nuôi cũng chủ động đầu tư, áp dụng các giải pháp kỹ thuật phù hợp với điều kiện sản xuất, thích ứng với diễn biến thời tiết. Từ thực tế nuôi cá trên lòng hồ, Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển du lịch Quỳnh Nhai, xã Quỳnh Nhai, đã đầu tư hệ thống bơm nước mát từ đáy sông lên khu vực nuôi để chủ động điều chỉnh nhiệt độ nước. Hiện Công ty duy trì 25 lồng nuôi các loại cá đặc sản, đồng thời phát triển các hoạt động du lịch, nghỉ dưỡng trên lòng hồ. Sản phẩm thủy sản được sử dụng phục vụ du khách, tạo thêm đầu ra và góp phần quảng bá đặc sản địa phương.
Ông Phạm Văn Doanh, Giám đốc Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển du lịch Quỳnh Nhai, cho biết: Vào mùa hè, nhiệt độ nước tăng cao khiến cá dễ bị sốc nhiệt, chậm lớn, tiêu tốn nhiều thức ăn và tăng nguy cơ hao hụt. Vì vậy, Công ty đầu tư hệ thống bơm nước mát từ đáy sông lên khu vực lồng nuôi, duy trì nhiệt độ nước dưới 20°C trong những ngày nóng nhất. Nhờ đó, cá sinh trưởng ổn định hơn, giảm hao hụt, tiết kiệm thức ăn, nâng hiệu quả sản xuất.
Cùng với kiểm soát môi trường, kỹ thuật cho ăn cũng được các cơ sở nuôi điều chỉnh theo từng giai đoạn sinh trưởng. Con giống được lựa chọn đồng đều, khỏe mạnh; khẩu phần thức ăn được điều chỉnh theo kích cỡ và nhu cầu của cá. Một số cơ sở sử dụng ống nhựa đưa thức ăn xuống sâu trong lồng, kết hợp sàng ăn, giúp kiểm soát lượng thức ăn, hạn chế dư thừa, góp phần giữ môi trường nước ổn định. Bên cạnh đó, vật liệu làm lồng cũng từng bước được cải tiến. Lồng khung sắt kiên cố, lồng nhựa HDPE được đưa vào sử dụng, thay thế dần các loại lồng bằng tre, nứa, gỗ. Với độ bền và khả năng chống chịu tốt hơn trước dông lốc, biến động mực nước, các loại lồng mới phù hợp với xu hướng nuôi tập trung, quy mô lớn trên lòng hồ.
Những tiến bộ kỹ thuật được áp dụng phù hợp với điều kiện sản xuất đang giúp các cơ sở nuôi chủ động hơn trong chăm sóc, phòng bệnh, sử dụng thức ăn và kiểm soát môi trường. Đến nay, toàn tỉnh có 2.907 ha nuôi trồng thủy sản, 7.091 lồng nuôi cá; hình thành 15 chuỗi cung ứng thủy sản an toàn với trên 2.000 lồng nuôi. Từ đầu năm đến nay, sản lượng thủy sản nuôi trồng của tỉnh ước đạt trên 4.000 tấn, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, sản lượng cá nuôi trồng tăng 2,47%. Nhiều sản phẩm cá sông Đà được chứng nhận OCOP, từng bước xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường tiêu thụ, tạo thêm động lực để người nuôi chú trọng chất lượng và áp dụng các quy trình sản xuất tiên tiến.
Hướng tới vùng nuôi an toàn, hiệu quả
Sơn La có hệ thống sông, suối, hồ chứa rộng lớn, trong đó hơn 26.000 ha mặt nước vùng lòng hồ thủy điện Sơn La và Hòa Bình là lợi thế để phát triển nuôi trồng thủy sản. Cùng với mở rộng quy mô, ngành chuyên môn chú trọng chuyển giao kỹ thuật, giúp người nuôi nâng cao kiến thức và áp dụng quy trình phù hợp với điều kiện từng vùng.
Từ năm 2020 đến nay, toàn tỉnh đã tổ chức gần 500 khóa tập huấn hiện trường về nuôi trồng thủy sản tại các xã trọng điểm. Nội dung tập trung vào kỹ thuật chọn giống, chăm sóc, quản lý thức ăn, phòng bệnh và kiểm soát môi trường. Đồng thời, các dự án, mô hình khuyến nông được triển khai tại các vùng nuôi trọng điểm, tập trung chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, công nghệ và hướng dẫn người dân áp dụng vào sản xuất. Những giải pháp về sản xuất giống, quản lý thức ăn, kiểm soát môi trường, phòng bệnh được thực hành, đánh giá hiệu quả và từng bước nhân rộng, tạo chuyển biến trong phương thức nuôi. Việc áp dụng kỹ thuật mới cùng với kiểm soát chặt chẽ các yếu tố đầu vào đang góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu sản xuất an toàn. Đây cũng là cơ sở để hình thành, mở rộng các vùng nuôi và chuỗi cung ứng thủy sản an toàn trên địa bàn tỉnh.
Giai đoạn 2026-2030, Sơn La phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất thủy sản trên 2,5%/năm; diện tích nuôi trồng đạt 3.165 ha; phát triển 7.212 lồng nuôi; sản lượng nuôi trồng đạt 10.779 tấn và sản lượng khai thác đạt 1.400 tấn vào năm 2030. Thực hiện các mục tiêu, tỉnh tiếp tục phát triển các vùng nuôi phù hợp với điều kiện mặt nước, khuyến khích áp dụng các quy trình sản xuất tiên tiến, tăng cường kiểm soát môi trường và chất lượng sản phẩm; đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ, gắn sản xuất với liên kết tiêu thụ.
Ông Dương Văn Biểng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản, cho biết: Trong điều kiện thời tiết có những diễn biến bất thường, yêu cầu kiểm soát môi trường và phòng, chống dịch bệnh trong nuôi thủy sản ngày càng cao. Ngành tăng cường quan trắc các chỉ tiêu môi trường nước, chủ động cảnh báo nguy cơ và hướng dẫn người nuôi xử lý kịp thời, góp phần hạn chế thiệt hại, duy trì ổn định sản xuất. Đồng thời, hướng dẫn người dân, HTX, doanh nghiệp ứng dụng kỹ thuật phù hợp với từng vùng nuôi, hướng tới sản xuất thủy sản an toàn, chất lượng.
Khoa học - công nghệ đang trở thành giải pháp quan trọng nâng cao hiệu quả nuôi trồng thủy sản, giúp Sơn La khai thác hiệu quả lợi thế mặt nước, nâng giá trị sản phẩm và từng bước hình thành các vùng nuôi an toàn, sản xuất hàng hóa.

-restored-copy.jpg)
Bạn còn 500/500 ký tự
Bạn vui lòng nhập từ 5 ký tự trở lên !!!