Nằm ở trung tâm vùng Tây Bắc, Sơn La có nhiều lợi thế phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung quy mô lớn. Tuy nhiên, rào cản chi phí vận chuyển, sự thiếu hụt hệ thống kho bãi bảo quản và chuỗi cung ứng khiến giá trị nông sản đạt thấp. Trước thực trạng đó, tỉnh Sơn La đang triển khai các kế hoạch hành động, đưa logistics trở thành động lực bứt phá để nâng tầm và đưa nông sản vươn xa.
Nhận diện "điểm nghẽn"
Sơn La hiện có trên 85.000 ha cây ăn quả và sơn tra, là địa phương có diện tích cây ăn quả lớn thứ hai cả nước. Quy mô sản xuất ngày càng mở rộng không chỉ tạo ra nguồn hàng hóa lớn cho thị trường mà còn đặt ra yêu cầu tổ chức tiêu thụ hiệu quả, nhất là trong bối cảnh sản lượng tập trung trong thời gian ngắn của mùa vụ. Năm 2026, sản lượng quả toàn tỉnh dự kiến đạt khoảng 590.000 tấn; riêng mận hậu và xoài đều đạt gần 100.000 tấn.
Cùng với phát triển vùng nguyên liệu, Sơn La chú trọng thu hút đầu tư vào lĩnh vực chế biến nông sản. Giai đoạn 2021-2025, tỉnh thu hút 5 dự án xây dựng nhà máy chế biến rau quả quy mô công nghiệp; đồng thời phát triển hàng nghìn cơ sở sơ chế, sấy nông sản tại địa phương. Hiện nay, toàn tỉnh có trên 560 nhà máy, cơ sở chế biến nông sản và hơn 2.700 cơ sở sấy long nhãn, hoa quả, đang góp phần quan trọng trong việc tiêu thụ sản phẩm tại chỗ, giảm áp lực lưu thông trong thời điểm chính vụ. Nhiều dự án quy mô lớn đã đi vào hoạt động như: Nhà máy chế biến tinh bột biến tính BHL Sơn La công suất 300 tấn/ngày; Nhà máy chế biến cà phê và các sản phẩm từ cà phê tại Mai Sơn cùng nhiều cơ sở chế biến chè, sữa, mắc-ca, rau quả khác. Nhờ mở rộng năng lực chế biến, nhiều mặt hàng trước đây chủ yếu tiêu thụ dưới dạng tươi nay đã được nâng cấp thành các sản phẩm có giá trị kinh tế cao hơn như nhãn sấy, xoài sấy, chè ô long, cà phê đặc sản, mắc-ca sấy, nước ép sơn tra, các sản phẩm từ sữa... Nhiều mặt hàng đã có mặt tại thị trường Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Liên minh châu Âu và một số nước Trung Đông.
Tuy nhiên, so với quy mô sản xuất ngày càng mở rộng, năng lực bảo quản và chế biến của tỉnh vẫn còn những hạn chế nhất định. Ở một số vùng sản xuất tập trung, hệ thống kho lạnh và bảo quản sau thu hoạch còn thiếu; tỷ lệ sản phẩm qua chế biến sâu chưa cao; liên kết giữa người dân, HTX, doanh nghiệp và thị trường tiêu thụ ở một số ngành hàng chưa thực sự chặt chẽ. Bên cạnh đó, sản lượng nông sản lớn, nhưng đặc thù địa hình miền núi chia cắt cùng hạ tầng giao thông kết nối chưa đồng bộ đang đặt ra thách thức lớn đối với khâu lưu thông, phân phối. Chi phí vận chuyển nông sản từ vùng nguyên liệu đến các trung tâm tiêu thụ lớn hoặc các cửa khẩu xuất khẩu thường chiếm tỷ trọng cao trong giá thành, làm giảm đáng kể sức cạnh tranh của sản phẩm.
Mặt khác, việc thiếu hụt hệ thống kho lạnh, trung tâm tập kết, sơ chế và bảo quản chuyên dụng tại các vùng sản xuất trọng điểm dẫn đến tình trạng nông sản dễ bị suy giảm chất lượng khi gặp thời tiết bất lợi hoặc khi chịu áp lực dồn ứ vào cao điểm thu hoạch. Hệ thống thương lái, mạng lưới thu mua nhỏ lẻ chưa được tổ chức lại một cách bài bản để kết nối trực tiếp với các chuỗi logistics hiện đại.
Cụ thể hóa chiến lược
Theo quy hoạch tỉnh Sơn La thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1676/QĐ-TTg ngày 25/11/2023, tỉnh Sơn La quy hoạch 2 trung tâm logistics tại khu vực Mộc Châu gắn với tuyến quốc lộ 6, đường bộ cao tốc Hòa Bình - Mộc Châu và khu vực Mai Sơn gắn với Khu công nghiệp Mai Sơn và Cảng hàng không Nà Sản.
Ngày 5/6/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 2152/QĐ-BNNMT về Kế hoạch phát triển hệ thống logistics nhằm nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam giai đoạn 2026-2030. Nắm bắt thời cơ, cụ thể hóa các mục tiêu đặt ra, ngày 20/8/2026, UBND tỉnh Sơn La ban hành Kế hoạch số 228/KH-UBND, mở ra khung chính sách toàn diện nhằm giải quyết các "điểm nghẽn" hạ tầng, lấy logistics làm "mắt xích" cốt lõi nâng tầm chuỗi giá trị nông sản miền núi.
Trên cơ sở bám sát chỉ đạo của Trung ương, Kế hoạch số 228/KH-UBND của UBND tỉnh Sơn La đặt ra mục tiêu tổng quát là phát triển hệ thống dịch vụ logistics nông nghiệp hiện đại, gắn kết chặt chẽ với chuỗi cung ứng các ngành hàng nông sản chủ lực. Toàn tỉnh phấn đấu đến năm 2030, năng lực dịch vụ logistics đáp ứng đủ nhu cầu tại các vùng sản xuất tập trung quả, cà phê, chè, rau, chăn nuôi; 100% vùng sản xuất hàng hóa nông, lâm, thủy sản tập trung được cung cấp đầy đủ các dịch vụ truy xuất nguồn gốc, kiểm dịch, kiểm định, chứng nhận chất lượng và phát triển thị trường.
Tỉnh đang tạo dựng một hành lang pháp lý thống nhất, thông suốt thông qua việc phân công trách nhiệm chi tiết cho các sở, ngành, như Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì theo dõi, Sở Công Thương tham mưu cơ chế chính sách, Sở Tài chính cân đối nguồn vốn cho đến UBND các xã, phường trực tiếp triển khai tại cơ sở để thu hút mạnh mẽ các nguồn lực xã hội hóa đầu tư vào hạ tầng logistics. Ông Vũ Tiến Đĩnh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp tỉnh, thông tin: Sở đang rà soát, điều chỉnh cơ cấu sản xuất nông, lâm, thủy sản trên địa bàn tỉnh gắn với phát triển hạ tầng phù hợp với các nội dung logistics nông sản theo Kế hoạch; phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường rà soát, bổ sung các nhiệm vụ phát triển logistics nông sản trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định; hình thành các chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản tại các vùng nguyên liệu chủ lực và tổ chức lại sản xuất theo mô hình tổ hợp tác, hợp tác xã liên kết với doanh nghiệp, thương lái để cung cấp nông sản đảm bảo chất lượng, an toàn và bền vững thông qua hệ thống trung tâm logistics nông sản.
Không dừng lại ở việc mở rộng hạ tầng cứng, bài toán nâng cao năng lực cạnh tranh cho nông sản Sơn La còn đòi hỏi sự bứt phá mạnh mẽ ở "hạ tầng mềm", cốt lõi là chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tỉnh đã đặt mục tiêu đến năm 2030 có 80% doanh nghiệp và hợp tác xã dịch vụ logistics trong nông nghiệp trên địa bàn áp dụng các giải pháp công nghệ số nhằm tối ưu hóa thời gian và chi phí vận hành. Nhất là, khuyến khích đầu tư hạ tầng thông tin logistics, triển khai các mô hình chuỗi cung ứng số và thương mại điện tử cho nông sản. Việc ứng dụng các công nghệ hiện đại như Trí tuệ nhân tạo (AI), Blockchain, Big Data trong quản lý, vận hành chuỗi lạnh và truy xuất nguồn gốc sản phẩm được xem là chìa khóa để minh bạch hóa thông tin, đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu khắt khe. Đồng thời, các giải pháp nghiên cứu giảm tổn thất sau thu hoạch và công nghệ xử lý phụ phẩm nông nghiệp cũng được ưu tiên triển khai nhằm nâng cao giá trị gia tăng.
Ông Hà Như Huệ, Giám đốc Sở Công Thương, cho biết: Sở đã tổ chức các đoàn khảo sát, học tập kinh nghiệm tại một số tỉnh, thành; đồng thời kêu gọi doanh nghiệp logistics đến nghiên cứu, đầu tư tại Sơn La; phối hợp với các sở, ngành chức năng cung cấp thông tin về hạ tầng, chính sách thu hút đầu tư, định hướng phát triển logistics và thương mại điện tử cho Liên chi hội Bất động sản công nghiệp Việt Nam; cung cấp dữ liệu về hạ tầng logistics, biên giới cho đoàn khảo sát của Viện Nghiên cứu chiến lược, chính sách công thương, phục vụ nghiên cứu giải pháp tăng cường kết nối logistics Việt Nam - Lào.
Ngoài ra, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và giảm phát thải ròng, các hoạt động đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu chứng nhận, sản phẩm OCOP gắn với mã số vùng trồng và tiêu chuẩn an toàn thực phẩm được tăng cường. Bên cạnh đó, Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, Thương mại và Du lịch phối hợp cùng các sở, ngành đẩy mạnh xúc tiến thương mại, kết nối cung - cầu, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thông tin luồng hàng tại các cửa khẩu trọng điểm như Lào Cai, Lạng Sơn, Hải Phòng để chủ động kế hoạch kinh doanh.
Việc chủ động tháo gỡ các "điểm nghẽn" logistics, xây dựng chuỗi cung ứng thông suốt, hiện đại và thân thiện với môi trường không chỉ khẳng định vị thế của nông sản vùng cao tại thị trường trong nước, còn tạo đà vững chắc đưa sản phẩm nông nghiệp Sơn La tự tin vươn xa trên trường quốc tế.

-restored-copy.jpg)
Bạn còn 500/500 ký tự
Bạn vui lòng nhập từ 5 ký tự trở lên !!!