Đại tướng Võ Nguyên Giáp - người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Vị Đại tướng đầu tiên, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, một trong những danh tướng kiệt xuất của dân tộc trong thời đại Hồ Chí Minh. Cuộc đời hơn 80 năm hoạt động cách mạng của Đại tướng gắn với những chặng đường đấu tranh gian khổ và thắng lợi vẻ vang của cách mạng Việt Nam. Với đồng bào Tây Bắc và Sơn La, dấu chân của Đại tướng còn in đậm trên những con đường ra trận, trong ký ức nhân dân các dân tộc và giữa màu xanh của Rừng Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở bản Nhọt, xã Gia Phù.
Từ người thầy giáo đến Đại tướng đầu tiên
Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tên khai sinh Võ Giáp, sinh ngày 25/8/1911 tại làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình (nay là xã Lệ Thủy, tỉnh Quảng Trị), trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước.
Sớm giác ngộ cách mạng, đồng chí Võ Nguyên Giáp tham gia hoạt động yêu nước từ khi còn trẻ. Trước khi trở thành nhà quân sự, đồng chí từng là thầy giáo dạy lịch sử, nhà báo, nhà hoạt động chính trị. Bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời là được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, từ đó, đồng chí Võ Nguyên Giáp trở thành người học trò xuất sắc, gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và được Người tin tưởng giao nhiều trọng trách.
Tháng 12/1944, thực hiện Chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, đồng chí Võ Nguyên Giáp thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân tại khu rừng Trần Hưng Đạo, Cao Bằng, với 34 cán bộ, chiến sĩ. Ngay sau khi thành lập, Đội giành thắng lợi ở Phai Khắt, Nà Ngần, mở đầu truyền thống quyết chiến, quyết thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Ngày 20/1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh phong quân hàm Đại tướng cho đồng chí Võ Nguyên Giáp. Khi ấy, đồng chí mới 37 tuổi và trở thành Đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Không trải qua trường lớp quân sự chính quy, nhưng từ thực tiễn cách mạng, truyền thống quân sự của dân tộc và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trở thành một nhà cầm quân xuất sắc. Tài năng ấy luôn gắn với một nguyên tắc xuyên suốt: Chiến tranh nhân dân, dựa vào dân, phát huy sức mạnh của toàn dân và lấy con người làm nhân tố quyết định.
Vị Tổng Tư lệnh và Chiến dịch Điện Biên Phủ
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tên tuổi Đại tướng Võ Nguyên Giáp gắn với quá trình trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam và hàng loạt chiến dịch lớn. Từ Việt Bắc Thu - Đông năm 1947, Biên giới năm 1950 đến Trung Du, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào..., quân đội ta từng bước trưởng thành, chuyển từ chiến tranh du kích lên tác chiến tập trung với quy mô ngày càng lớn. Đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.
Cuối năm 1953, thực dân Pháp xây dựng Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương. Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp được giao làm Bí thư Đảng ủy, Chỉ huy trưởng mặt trận.
Trên đường lên Điện Biên, những đoàn quân, dân công, xe đạp thồ, lương thực, vũ khí nối nhau vượt núi rừng Tây Bắc. Sơn La trở thành địa bàn hậu phương trực tiếp và là cửa ngõ quan trọng trên những tuyến đường hướng về chiến trường.
Trong cuộc hành quân ấy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng đoàn quân đã dừng chân tại khu rừng bản Nhọt, xã Gia Phù. Nằm trên tuyến đường 13A, nay là quốc lộ 37, khu rừng với những tầng cây dày trở thành nơi trú quân an toàn trên đường tiến về Điện Biên. Sau này, bằng tình cảm kính yêu dành cho vị Tổng Tư lệnh, nhân dân địa phương gọi nơi đây bằng những cái tên thân mật: Rừng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Rừng Tướng Giáp, Rừng Ông Giáp.
Từ Sơn La, đoàn quân tiếp tục tiến về Điện Biên Phủ. Tại mặt trận, trước một quyết định có ý nghĩa sống còn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã thể hiện bản lĩnh đặc biệt của người cầm quân. Sau khi cân nhắc kỹ tương quan lực lượng và tình hình thực tế, ông quyết định chuyển phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”.
Đó được xem là một trong những quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời cầm quân của Đại tướng. Bởi khi ấy, bộ đội đã vào vị trí, pháo đã kéo lên trận địa. Thay đổi phương châm đồng nghĩa với phải tổ chức lại nhiều công việc chuẩn bị. Nhưng trên hết là yêu cầu chắc thắng và hạn chế thấp nhất sự hy sinh của bộ đội.
Sau 56 ngày đêm chiến đấu kiên cường, chiều 7/5/1954, lá cờ “Quyết chiến - Quyết thắng” tung bay trên nóc hầm tướng De Castries. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị tiêu diệt.
Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” đã đi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa của thời đại Hồ Chí Minh, góp phần quyết định kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới.
Tên tuổi Võ Nguyên Giáp từ đó gắn với Điện Biên Phủ. Và trên những cung đường Tây Bắc dẫn tới chiến trường năm ấy, dấu chân của vị Tổng Tư lệnh đã trở thành một phần ký ức lịch sử.
Vị tướng của nhân dân
Đằng sau một Tổng Tư lệnh quyết đoán là một con người nhân hậu, gần gũi, hết lòng thương yêu cán bộ, chiến sĩ. Với nhiều thế hệ bộ đội, ông là “Người Anh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam”. Trong tư tưởng quân sự của Đại tướng, con người luôn là nhân tố quyết định. Người chỉ huy phải biết quý trọng từng giọt máu của chiến sĩ. Chiến thắng phải đi đôi với hạn chế thấp nhất những tổn thất không cần thiết.
Có lẽ chính điều đó làm nên hình ảnh một vị tướng đặc biệt: Tài năng nhưng gần gũi; quyết đoán nhưng nhân văn; một danh tướng của chiến tranh cách mạng nhưng luôn hướng đến hòa bình, độc lập và hạnh phúc của nhân dân.
Từ khu rừng Trần Hưng Đạo, nơi ra đời Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, đến Điện Biên Phủ; từ những chiến dịch lớn của hai cuộc kháng chiến đến ngày đất nước thống nhất, dấu ấn Đại tướng Võ Nguyên Giáp gắn liền với những chặng đường vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Với Tây Bắc, là dấu chân người anh hùng trên con đường ra trận. Với Sơn La, là màu xanh bất tử của cánh rừng mang tên Tướng Giáp ở bản Nhọt, xã Gia Phù - chứng tích của lịch sử và tình cảm nhân dân dành cho vị tướng huyền thoại. Nhiều thập niên đã qua, nhân dân nơi đây vẫn chung tay giữ rừng. Khu rừng từng che chở đoàn quân ra trận nay trở thành một “địa chỉ đỏ” giáo dục truyền thống. Năm 2008, khu rừng bản Nhọt được UBND tỉnh công nhận là Di tích lịch sử kháng chiến chống Pháp. Di tích được tu bổ, tôn tạo và khánh thành cuối năm 2021, gồm: Đền thờ Đại tướng Võ Nguyên Giáp, sân đền thờ, sân hành lễ, cầu cảnh quan, cổng tam quan... Trong Quy hoạch tỉnh Sơn La thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, Khu bảo vệ cảnh quan Rừng Đại tướng Võ Nguyên Giáp được xác định với diện tích dự kiến 268,70 ha tại bản Nhọt, xã Gia Phù.
Giữa đại ngàn Tây Bắc, những cây rừng vẫn nối nhau xanh ngát. Dưới tán rừng ấy là ký ức về một đoàn quân năm xưa vượt núi hướng về Điện Biên; là câu chuyện được các thế hệ người dân bản Nhọt tự hào trao truyền về vị Tổng Tư lệnh từng dừng chân nơi đây.
Ngày 4/10/2013, Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ trần. Hàng triệu người dân trên khắp mọi miền Tổ quốc tiếc thương tiễn biệt ông. Những dòng người nối dài trước ngôi nhà số 30 Hoàng Diệu và trên các tuyến phố Hà Nội đã nói lên vị trí đặc biệt của Đại tướng trong lòng nhân dân.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp - vị tướng huyền thoại, vị tướng của nhân dân. Di sản ông để lại là những chiến thắng và nghệ thuật quân sự đặc sắc và bài học về lòng yêu nước, bản lĩnh, trí tuệ, trách nhiệm với nhân dân và khát vọng hòa bình. Đó là những giá trị còn mãi với thời gian, tiếp thêm sức mạnh cho các thế hệ hôm nay trên hành trình xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.

-restored-copy.jpg)
Bạn còn 500/500 ký tự
Bạn vui lòng nhập từ 5 ký tự trở lên !!!