Đã 65 năm trôi qua, những người lính Điện Biên năm xưa nay đã ở tuổi xưa nay hiếm, mắt đã mờ, chân đã chậm, sức khỏe giảm sút..., nhưng ký ức về những ngày tháng chiến đấu khốc liệt, những hy sinh anh dũng của đồng đội vẫn không phai mờ trong tâm trí của họ.
Cựu chiến binh Lê Công Bỉnh kể lại những ngày tháng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ.
Chúng tôi có dịp gặp gỡ và trò chuyện với ông Lê Công Bỉnh ở tiểu khu 3/2, xã Cò Nòi (Mai Sơn) để nghe ông kể về những ngày tháng kháng chiến gian khổ mà đầy hào hùng ấy. Đã 87 tuổi đời, 63 năm tuổi Đảng, nhưng mỗi khi nhớ lại mốc son lịch sử 65 năm trước, đôi mắt ông Bỉnh vẫn ánh lên niềm tự hào. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo ở xã Thọ Vực, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa; tham gia dân quân du kích và hoạt động thanh niên tại xã từ năm 1946. Tháng 12/1949, ông nhập ngũ, được biên chế vào Cục Quân nhu liên khu A4 tại Ninh Bình - Thanh Hóa; tháng 12/1952, được điều động về Đại đội 115 cối 120 mm, Tiểu đoàn 83, Trung đoàn 675, Đại đoàn 351 tham gia chiến dịch thượng Lào. Tháng 12/1953, Tiểu đoàn 83 được điều động về Đại đoàn 312, hành quân bộ khiêng cối 120 mm từ Tuyên Quang qua Yên Bái, Nghĩa Lộ, Bắc Yên lên Điện Biên.
Ngày ấy, những người lính hành quân ra trận với khí thế hừng hực, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, cứ 4 người khiêng một bộ phận của khẩu cối, miệt mài băng rừng, vượt núi, dù bữa ăn chỉ là cơm nắm, mấy củ sắn, ít rau rừng cùng bi-đông nước... Gian khổ nhất là khu vực bến phà Tạ Khoa, bom đạn quân địch dội xuống suốt ngày đêm. Hành quân đến cách Điện Biên khoảng hơn 10 km, đơn vị dừng lại để làm đường kéo pháo vào trận địa. Được 3 đêm thì nhận lệnh kéo pháo ra; địch bắn pháo vào đội hình, 3 đồng đội của ông hy sinh...
Lặng đi một hồi, rồi ông phấn chấn trở lại: Những kỷ niệm chiến trận thì nhiều, nhưng tôi nhớ nhất trận tấn công đồi Him Lam ngày 13/3/1954 - một trong ba trung tâm đề kháng quan trọng của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Trận đánh kết thúc lúc 23h30, với sự phối hợp nhịp nhàng, ăn khớp, hiệu quả của lực lượng bộ binh và pháo binh, ta tiêu diệt 300 tên, bắt 200 tên khác, thu toàn bộ vũ khí trang bị. Ngày 16/3, quân địch ở khu đồi bản Kéo lũ lượt kéo cờ trắng ra hàng. Bởi bị mất 3 vị trí tiền tiêu quan trọng ở phân khu phía Bắc, quân Pháp cay cú, điên cuồng nã pháo, huy động nhiều máy bay bắn phá liên tục vào trận địa pháo của ta, nhưng chúng vẫn phải nhận kết cục cay đắng. Giải phóng xong đồi Độc Lập, đơn vị chúng tôi tập trung đi thu gom các loại chiến lợi phẩm. Lúc này, cấp trên quyết định thành lập thêm 1 đại đội pháo hỏa tiễn 6 nòng DKZ 75, tôi được điều động vào Đại đội này, được huấn luyện tại trận địa, rồi bố trí cho đánh kiềm chế máy bay địch tại sân bay Mường Thanh; tiếp đó chuyển sang đánh xe tăng và các hầm đại liên của địch tại cầu Mường Thanh.
Trở về đời thường, người lính Điện Biên năm xưa vẫn giữ vững và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, nỗ lực khắc phục khó khăn, nuôi dạy con cháu trưởng thành. Ông Bỉnh vẫn thường nhắc nhở, động viên con cháu tiếp tục phát huy tinh thần, hào khí Điện Biên, xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh, xứng đáng với những hy sinh xương máu của ông cha vì độc lập, tự do của dân tộc.

-restored-copy.jpg)
Bạn còn 500/500 ký tự
Bạn vui lòng nhập từ 5 ký tự trở lên !!!