Trang chủ

Thơm dẻo bánh dày

Cùng với đồng bào dân tộc Mông ở các địa phương khác trong tỉnh, ngoài giã bánh dày vào dịp tết cổ truyền hàng năm, đồng bào dân tộc Mông ở các xã vùng cao của huyện Mường La còn giã bánh dày vào dịp tết Độc lập, cưới hỏi, mừng nhà mới... Bánh dày dẻo, thơm, đậm đà là món ăn đãi khách quý, là nét văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Mông nơi đây.

Người dân bản Pá Sóng, xã Chiềng Lao, huyện Mường La giã bánh dày.

Theo tiếng Mông, bánh dày gọi là “dúa”, trong mâm cơm những ngày lễ, tết ngoài rượu, thịt, rau rừng đồ xôi, bánh dày là thứ không thể thiếu để dâng lên tổ tiên. Bánh dày là biểu tượng cho tình yêu, sự thủy chung son sắt của trai gái đồng bào Mông và là món bánh tượng trưng cho mặt trăng và mặt trời - nguồn gốc sinh ra con người và vạn vật trên mặt đất.

Ðể làm được những chiếc bánh dày thơm, dẻo cần trải qua nhiều công đoạn, đòi hỏi sự công phu, khéo léo và tỉ mỉ. Đầu tiên là chuẩn bị cối và chày để giã bánh dày. Cối, chày làm bằng thân gỗ tốt, cối được khoét rỗng ruột hoặc lõm ruột; còn chày dài khoảng 35 - 40 cm, đường kính từ 10 -15 cm. Chọn loại gạo nếp nương trắng, thơm, hạt to đều, khi đồ lên sẽ cho xôi dẻo. Gạo được vo, ngâm nước khoảng 6 - 8 tiếng, vớt ra để ráo, rồi cho vào chõ làm bằng gỗ để đồ. Sau khi đồ xôi từ 1 - 2 giờ mang ra giã bánh ngay khi xôi còn nóng. Các nam thanh niên khỏe mạnh, khéo léo dùng chày đẩy dồn cuộn xôi về một phía cối, sau đó lại giã theo kiểu “cuốn chiếu” để xôi nhuyễn đều. Xôi giã càng kỹ càng dẻo, tạo thành bột trắng mịn, dính quyện lấy nhau, được các bà, các chị chia nhỏ, nặn hình mặt trăng, mặt trời, rồi bọc một lớp lá chuối hoặc lá dong tươi bên ngoài. Để khi nặn bánh dày không dính tay và tăng độ thơm ngon, người làm thường sử dụng lòng đỏ trứng gà xoa vào lòng bàn tay trước khi chia phần, nặn bánh. Bánh dày có thể ăn ngay hoặc để nguội sau đó cắt thành miếng nhỏ rán lên hoặc nướng trên bếp than khoảng 10 - 15 phút, khi bánh phồng nhẹ, vỏ bánh vàng đều, bên trong mềm có mùi thơm đặc trưng của gạo nếp nương là được. Bánh dày giã tay có thể để được từ 10 - 15 ngày ở ngoài, nhiệt độ mát mà không bị hỏng, bánh ăn ngon hơn khi chấm với mật mía hoặc mật ong.

Từ năm 2013 - 2019, trước khi xảy ra dịch bệnh Covid -19, các xã Chiềng Lao, Chiềng Công, Chiềng Muôn, Ngọc Chiến của huyện Mường La thường xuyên tổ chức hội thi giã bánh dày, nhằm gìn giữ cách làm bánh dày truyền thống của người Mông trên địa bàn, đồng thời quảng bá sản phẩm bánh dày đến khách du lịch trong và ngoài tỉnh. Đặc biệt, năm 2020, xã Chiềng Lao đã thành lập HTX Nông nghiệp Chiềng Lao, khuyến khích các thành viên trong HTX thuộc 4 bản: Đán Én, Huổi Hậu, Phiêng Phả, Pá Sóng sản xuất và kinh doanh bánh dày giã tay truyền thống, giúp các thành viên tăng thêm thu nhập và giữ gìn nghề làm ánh dày truyền thống.

Người dân bản Pá Sóng, xã Chiềng Lao, huyện Mường La làm bánh dày.

Ngoài bánh dày trắng truyền thống, nhiều gia đình còn sáng tạo làm bánh dày nếp cẩm, bánh dày vàng (ngâm gạo nếp với hoa mật mông) để bán cho người tiêu dùng, các nhà hàng ẩm thực dân tộc trong và ngoài tỉnh. Chị Giàng Thị Dúa, bản Co Sủ trên, xã Chiềng Công, chia sẻ: Mỗi tháng, gia đình tôi giã khoảng 4 - 5 mẻ bánh dày các loại, mỗi mẻ khoảng 15 kg gạo nếp để bán cho người tiêu dùng trong huyện, trong tỉnh và cho nhà hàng ẩm thực ở các tỉnh Yên Bái, Điện Biên, Lào Cai, Hà Nội… với giá 55 nghìn đồng/1 cặp, thu nhập trung bình từ 3 - 5 triệu đồng/tháng từ bán bánh dày. Để bảo quản bánh được lâu và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, gia đình tôi đã sử dụng phương pháp hút chân không, bảo quản lạnh trong quá trình vận chuyển bánh cho khách hàng ở xa. Sử dụng mạng xã hội zalo, facebook để đăng bài viết, hình ảnh, video về quy trình làm bánh dày của gia đình, nhằm quảng bá và mở rộng thị trường tiêu thụ.

Nhiều dân tộc khác cũng có bánh dày, nhưng cách làm bánh dày của đồng bào dân tộc Mông huyện Mường La mang lại hương vị đặc trưng truyền thống, nếu đã một lần được trải nghiệm cách làm bánh dày và thưởng thức món ăn này sẽ rất khó quên.

Trường Sơn
BÌNH LUẬN

Bạn còn 500/500 ký tự

Bạn vui lòng nhập từ 5 ký tự trở lên !!!

Tin mới

  • 'Chiềng Mung kiểm soát nguồn thải từ sơ chế cà phê

    Chiềng Mung kiểm soát nguồn thải từ sơ chế cà phê

    Công nghiệp - TTCN -
    Là vùng trọng điểm cả phê của tỉnh, với 1.500 ha và sản lượng 20.000 tấn quả/năm, ngành sơ chế, chế biến cà phê đang mang lại nguồn thu lớn cho xã Chiềng Mung. Tuy nhiên, đi đôi với hiệu quả kinh tế là tình trạng chất thải, ô nhiễm nguồn nước và không khí trong vụ thu hoạch cà phê vẫn diễn ra. Xã Chiềng Mung đang tăng cường công tác kiểm tra, yêu cầu các cơ sở ký cam kết và hoàn thiện hệ thống xử lý chất thải theo đúng quy định.
  • 'Họp Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh trước Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI

    Họp Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh trước Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI

    Thời sự - Chính trị -
    Ngày 1/10, đồng chí Hoàng Văn Nghiệm, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh đã chủ trì họp các đại biểu Quốc hội đang công tác tại địa phương để triển khai một số nội dung theo chương trình của Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI.  
  • 'Hội nghị triển khai quyết định, kế hoạch kiểm tra đối với Đảng ủy Sở Nông nghiệp và Môi trường

    Hội nghị triển khai quyết định, kế hoạch kiểm tra đối với Đảng ủy Sở Nông nghiệp và Môi trường

    Thời sự - Chính trị -
    Chiều 1/10, Đoàn Kiểm tra theo Quyết định số 530, ngày 28/9/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã tổ chức Hội nghị triển khai quyết định, kế hoạch kiểm tra đối với Đảng ủy Sở Nông nghiệp và Môi trường. Đồng chí Chá A Của, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Trưởng đoàn Kiểm tra, chủ trì hội nghị.
  • 'Để những cánh rừng bên dòng Sông Mã mãi xanh

    Để những cánh rừng bên dòng Sông Mã mãi xanh

    Xã hội -
    Hạt Kiểm lâm Khu vực VII hiện được giao quản lý hơn 51.400ha rừng, trong đó hơn 25.300 ha rừng phòng hộ, 2.133 ha rừng đặc dụng và gần 24.300 ha rừng sản xuất tại địa bàn 8 xã vùng Sông Mã. Diện tích rừng lớn, địa bàn rộng, địa hình phức tạp, trong đó có nhiều khu vực giáp biên, đặt ra yêu cầu cao đối với công tác quản lý, bảo vệ rừng, để những cánh rừng biên giới ngày càng thêm xanh.
  • 'Phát triển nguồn nhân lực văn hóa cơ sở

    Phát triển nguồn nhân lực văn hóa cơ sở

    Văn hóa - Xã hội -
    Sở hữu kho tàng văn hóa truyền thống phong phú và độc đáo tỉnh Sơn La luôn quan tâm đầu tư, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực văn hóa cơ sở. Đây là giải pháp quan trọng, quyết định trực tiếp đến hiệu quả bảo tồn di sản, đồng thời tạo động lực thúc đẩy các phong trào xây dựng đời sống văn hóa tại địa phương.