Thời tiết diễn biến thất thường, mùa khô kéo dài, nguồn nước phục vụ sản xuất ở một số vùng còn khó khăn. Nhiều hợp tác xã, hộ dân ở Sơn La đã đầu tư hệ thống tưới tiết kiệm, giảm công lao động, tiết kiệm nước, nâng hiệu quả sản xuất.
Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm
Vân Hồ có khí hậu ôn hòa, đất đai phù hợp phát triển chè, hoa quả ôn đới, rau màu và các sản phẩm nông nghiệp hàng hóa. Song, địa hình nhiều khu vực dốc, diện tích sản xuất phân tán, nguồn nước giữa mùa mưa và mùa khô chênh lệch lớn, nhất là trong những tháng mùa khô, gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp nơi đây.
Những ngày nắng nóng, tại khu sản xuất rau của HTX Nông Xanh, bản Hang Trùng 1, xã Vân Hồ, các luống rau vẫn phát triển xanh tốt. Nước được đưa trực tiếp đến vùng rễ qua hệ thống tưới nhỏ giọt bán tự động. Người sản xuất có thể điều chỉnh lượng nước theo từng loại cây và giai đoạn sinh trưởng.
Ông Lưu Tùng Định, Giám đốc HTX Nông Xanh, cho biết: Trước đây, việc tưới nước chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, có lúc cây thiếu nước, có lúc tưới quá nhiều. Hiện nay, HTX theo dõi độ ẩm đất, tình trạng cây và diễn biến thời tiết để xác định thời điểm, lượng nước tưới phù hợp. Hệ thống tưới nhỏ giọt được kết hợp với bón dinh dưỡng, đưa nước và phân đến vùng rễ, hạn chế thất thoát.
HTX Nông Xanh thành lập năm 2019, hiện liên kết với hơn 60 hộ, sản xuất khoảng 40 ha rau. Các sản phẩm chủ lực gồm ớt chuông, cà chua, su hào trái vụ, dưa chuột baby, bí xanh và các loại rau ăn lá. Sản phẩm được sản xuất theo quy trình an toàn, cung cấp cho hệ thống siêu thị, cửa hàng thực phẩm, bếp ăn tập thể và thị trường trong, ngoài tỉnh. Bình quân mỗi ha rau cho thu nhập hơn 300 triệu đồng/vụ sau khi trừ chi phí. Cùng với hệ thống tưới, HTX sử dụng phân hữu cơ, chế phẩm sinh học, áp dụng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp và ghi chép nhật ký sản xuất. Các khâu từ cải tạo đất, bón phân, tưới nước đến phòng trừ sâu bệnh được thực hiện theo quy trình thống nhất.
Ông Nguyễn Văn Bắc, Phó Chủ tịch UBND xã Vân Hồ, thông tin: Khoảng 80-85% lượng mưa trong năm ở Vân Hồ tập trung từ tháng 5 đến tháng 10; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chỉ chiếm khoảng 15-20%. Vì vậy, việc chủ động nguồn nước, giữ ẩm cho đất có vai trò quan trọng trong sản xuất. Xã tiếp tục hướng dẫn người dân chủ động nguồn nước, quản lý độ ẩm đất, lựa chọn hệ thống tưới phù hợp với từng vùng; khuyến khích sử dụng phân hữu cơ, chế phẩm sinh học, vật liệu che phủ đất; xác định thời điểm, lượng nước tưới theo đặc điểm đất và nhu cầu của cây, hạn chế thất thoát nước, nâng hiệu quả sử dụng phân bón. Hiện toàn xã có 52 ha cây trồng áp dụng các hình thức tưới tiết kiệm.
Tại xã biên giới Chiềng Khương, việc áp dụng tưới tiết kiệm cũng được các HTX chú trọng. HTX Hưng Lộc, bản Tân Lập, có 23 thành viên, sản xuất 46 ha cây ăn quả, trong đó 30 ha nhãn chín sớm. Cùng với sản xuất theo quy trình an toàn, HTX áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, trong đó có tưới nước theo từng giai đoạn sinh trưởng của cây.
Dẫn chúng tôi thăm vườn nhãn đang độ thu quả, ông Đoàn Văn Lộc, Giám đốc HTX, cho biết: Hệ thống tưới đưa nước trực tiếp đến vùng rễ, giúp chúng tôi điều chỉnh lượng nước theo từng vườn, từng thời điểm và diễn biến thời tiết. Công việc tưới giảm đáng kể sức lao động do không phải kéo đường ống, vận chuyển nước hoặc tưới thủ công trên diện tích lớn.
Trước đây, vào mùa nắng nóng, HTX phải thuê lao động chuyên tưới cho cây. Hiện nay, hệ thống bán tự động có thể điều khiển bằng điện thoại thông minh, một người có thể vận hành và theo dõi quá trình tưới. Ông Trần Văn Phát, thành viên HTX Hưng Lộc, đang chăm sóc 2 ha nhãn rải vụ, chia sẻ: Chủ động được nước và dinh dưỡng giúp gia đình giảm công chăm sóc, dễ điều chỉnh theo thời tiết và tình trạng cây. Vụ này, gia đình dự kiến thu khoảng 20 tấn nhãn/ha, doanh thu đạt hàng trăm triệu đồng/ha.
Thích ứng với biến đổi khí hậu
Từ những mô hình sản xuất, tưới tiết kiệm đang từng bước được mở rộng tại các vùng sản xuất hàng hóa của tỉnh. Hiện toàn tỉnh có gần 4.000 ha cây trồng áp dụng các hình thức tưới tiết kiệm, tập trung ở cây ăn quả, cà phê, chè và một số cây trồng chủ lực. Theo đánh giá, công nghệ tưới nhỏ giọt, béc phun giúp tiết kiệm 20-40% lượng nước; giảm 10-30% lượng phân bón trong quá trình canh tác, hạn chế nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Thu nhập của nông dân, HTX, doanh nghiệp có thể tăng 10-50% so với áp dụng phương pháp tưới truyền thống.
Bà Hoàng Thị Thu Hiền, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông và Chuyển đổi số tỉnh, đánh giá: Tưới tiết kiệm giúp kiểm soát lượng nước, giảm công lao động, nâng hiệu quả sử dụng nước. Với cây ăn quả, tưới nhỏ giọt đưa nước và dinh dưỡng trực tiếp đến vùng rễ, hạn chế bốc hơi, rửa trôi. Với cây cà phê, phương pháp này giúp duy trì độ ẩm trong mùa khô, giảm công tưới; ở các vùng rau, hệ thống tưới bán tự động giúp người sản xuất điều chỉnh lượng nước theo từng giai đoạn sinh trưởng của cây.
Tuy nhiên, diện tích áp dụng tưới tiết kiệm vẫn còn hạn chế, chủ yếu tập trung ở những cây trồng có giá trị kinh tế cao và các HTX, hộ dân có khả năng đầu tư. Chi phí ban đầu cho máy bơm, đường ống, van, thiết bị điều khiển và cảm biến còn cao. Sản xuất nhỏ lẻ, địa hình đồi dốc cũng khiến việc thiết kế, lắp đặt hệ thống ở một số nơi gặp khó khăn. Kỹ năng vận hành, bảo dưỡng thiết bị của người dân chưa đồng đều; việc xác định nhu cầu nước của cây ở nhiều diện tích vẫn dựa nhiều vào kinh nghiệm. Đây là những vấn đề cần tính đến khi mở rộng tưới tiết kiệm, nhất là tại những vùng sản xuất còn phân tán, điều kiện đầu tư hạn chế.
Giai đoạn 2026-2030, Sơn La tiếp tục cơ cấu lại ngành nông nghiệp, tập trung phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ; nâng cao chất lượng sản phẩm nông sản hàng hóa chủ lực theo chuỗi giá trị. Tỉnh định hướng ưu tiên phát triển hệ thống thủy lợi, tạo nguồn nước phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tưới cây ăn quả, cây công nghiệp và nuôi trồng thủy sản tập trung; ứng dụng công nghệ tiên tiến trong tưới tiết kiệm nước. Theo đó, để mở rộng diện tích, trước mắt cần ưu tiên các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, cây trồng có giá trị kinh tế cao, những khu vực thường thiếu nước vào mùa khô. Việc đầu tư cần căn cứ điều kiện đất đai, địa hình, nguồn nước và quy mô sản xuất, bảo đảm hệ thống phát huy hiệu quả, tránh đầu tư dàn trải.
Cùng với đầu tư thiết bị, ngành nông nghiệp tiếp tục hướng dẫn người dân, HTX vận hành, bảo dưỡng hệ thống đúng kỹ thuật; tham mưu các chính sách hỗ trợ, tín dụng để khuyến khích đầu tư. Việc sử dụng phân hữu cơ, chế phẩm sinh học, vật liệu che phủ cũng được khuyến khích nhằm tăng khả năng giữ ẩm, hạn chế xói mòn, rửa trôi dinh dưỡng và cải thiện đất.
Tưới tiết kiệm đang mở thêm hướng chủ động nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp, nhất là tại những vùng thường thiếu nước vào mùa khô. Mở rộng các mô hình phù hợp với điều kiện từng vùng sẽ góp phần giảm chi phí, ổn định sản xuất, nâng giá trị nông sản và tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.

-restored-copy.jpg)
Bạn còn 500/500 ký tự
Bạn vui lòng nhập từ 5 ký tự trở lên !!!