Giữa tháng 11, khi cái lạnh lan tỏa khắp các vùng của xã Mường Do (Phù Yên), cũng là lúc người dân nơi đây hoàn tất xong việc thu hoạch các loại cây màu lạc, đậu, đỗ, khoai sọ... Thời điểm này, cũng như các xã vùng Mường, thời tiết nơi đây thật lạ: sáng sớm đầy sương kèm những cơn gió lạnh; trưa xuống, mây trên các đỉnh núi tan dần, thay vào là nắng gắt; chiều buông, nhiệt độ giảm, se se lạnh; đêm đến, cái lạnh đặc trưng của vùng cao Tây Bắc xuất hiện với những làn sương trắng bạc giăng khắp vùng... Tôi đến xã Mường Do vào một ngày như thế.

Tổ bảo vệ rừng bản Kiểng, xã Mường Do họp bàn phương án PCCCR.
Trước đây, tôi đã từng nghe các đồng nghiệp kể về Mường Do: là một trong 6 xã vùng Mường còn nhiều khó khăn; địa bàn nóng về tình trạng phá rừng, khai thác, vận chuyển và buôn bán lâm sản trái quy định; tại một số bản, số người dân tham gia tiếp tay cho các đầu nậu để phá rừng, buôn bán lâm sản. Không chỉ vậy, Mường Do còn được nhắc tới bởi tệ nạn ma túy; một số người dân hạn chế về nhận thức, thụ động trong sản xuất, trông chờ ỷ lại vào Nhà nước,... Nhưng trong chuyến công tác này, đi trên con đường trải nhựa vào xã, tôi được chứng kiến những đổi thay của Mường Do.
Bắt đầu từ khu vực giáp ranh từ xã Tân Lang vào xã Mường Do, không còn bắt gặp cảnh rừng bị phá hay tiếng cưa máy rền vang cùng hình ảnh người dân vận chuyển gỗ ra khỏi rừng như trước nữa. Thay vào đó là những cánh rừng tái sinh, rừng trồng xanh ngát hai bên đường được khoanh nuôi, bảo vệ tốt. Trên đường, những chiếc xe tải chở hàng nông sản tấp tập ngược xuôi cùng nhiều hàng quán với đầy đủ các mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống và sản xuất của bà con trong vùng... Để minh chứng về sự đổi thay hôm nay, ông Hà Đình Viêng, Chủ tịch UBND xã Mường Do, thông tin: Xã Mường Do đổi thay được như ngày hôm nay chính là sự quan tâm của tỉnh, huyện trên các lĩnh vực. Việc tỉnh, huyện hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn trong nhiều năm qua đã thúc đẩy KT-XH xã phát triển, đặc biệt là sự thay đổi nhận thức và sự nỗ lực vươn lên của người dân. Chỉ riêng 5 năm trở lại đây, từ các chương trình, dự án, đã hỗ trợ cho xã xây dựng nhiều công trình nước sinh hoạt, thủy lợi, trường học, trụ sở làm việc, đường giao thông và hệ thống điện lưới sinh hoạt... Với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, tranh thủ các nguồn vốn hỗ trợ từ các chương trình, dự án, từ đầu năm đến nay, xã còn vận động nhân dân góp hàng nghìn ngày công bê tông hóa các tuyến đường nội bản, xây dựng công trình cấp nước sinh hoạt, làm nhà văn hóa bản. Đồng thời, hỗ trợ sản xuất 132 con gia súc các loại cho các hộ nghèo; tiếp nhận và cấp phát 1.700kg ngô giống cho 393 hộ nghèo, góp phần làm thay đổi đời sống của người dân trong xã...
Chuyển biến tích cực nhất của người dân trong xã được thể hiện rõ trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và luôn được cấp ủy, chính quyền, nhân dân trong xã coi đó là khâu đột phá quyết định sự phát triển. Mấy năm gần đây, bà con tích cực thi đua thâm canh tăng vụ, khai hoang được nhiều ha ruộng nước, nâng diện tích gieo trồng các loại cây trồng lên 1.300 ha. Trong đó, hơn 100 ha lúa nước, 829 ha ngô, 140 ha sắn, 11 ha dong riềng, 21 ha chè và 6 ha hoa màu các loại, đưa sản lượng lương thực đạt hơn 5.200 tấn/năm, nâng thu nhập bình quân đầu người lên gần 10 triệu đồng/năm. Với lợi thế của địa phương, xã còn tập trung phát triển chăn nuôi 4.316 con gia súc, gần 20.000 con gia cầm các loại; vận động nhân dân đào 15 ha ao nuôi cá thương phẩm.
Bên cạnh đó, xã còn gắn phát triển kinh tế với phát triển văn hóa tinh thần, nâng cao dân trí cho người dân. Tại các bản không còn tình trạng lớp học tranh tre, vách nứa. Với 3 cấp học từ mầm non đến THCS, hằng năm xã huy động trẻ em trong độ tuổi đến trường đạt 100%, duy trì sỹ số trên 98%. Các phong trào văn hóa, thể thao được duy trì và phát triển mạnh. Hiện, xã có 9 đội nghệ, 5 đội thể thao thường xuyên được duy trì hoạt động, biểu diễn phục vụ các cơ sở. Cùng với đó, xã còn vận động 100% số bản, phân khu xây dựng và thực hiện tốt hương ước. Qua đó, không những xóa bỏ được những bức xúc xã hội, tập tục lạc hậu mà xã còn có 6 bản văn hóa, 582 hộ được công nhận danh hiệu gia đình văn hóa; đã có 82% số hộ được xem truyền hình và dùng điện lưới quốc gia, 100% số hộ được nghe đài Tiếng nói Việt Nam và hơn 10% số hộ có mức sống khá.
Dẫu Mường Do còn có những khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí cũ còn hơn 16%, nhưng những gì Mường Do đạt được hôm nay thể hiện rõ sự quyết tâm của cấp ủy, chính quyền và nhân dân, phát huy tốt truyền thống đoàn kết, xây dựng Mường Do ngày càng phát triển.

-restored-copy.jpg)
Bạn còn 500/500 ký tự
Bạn vui lòng nhập từ 5 ký tự trở lên !!!