Báo Sơn La điện tử - Tin tức cập nhật trong ngày

Trang chủ

Quản lý mã số vùng trồng nâng cao năng lực xuất khẩu

Là vùng trồng cây ăn quả lớn và trọng điểm của cả nước, Sơn La đang đẩy mạnh quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói gắn với truy xuất nguồn gốc và kiểm soát chất lượng nông sản. Đây là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng lực xuất khẩu, mở rộng thị trường tiêu thụ và gia tăng giá trị cho nông sản địa phương.

Thay đổi tư duy sản xuất từ mã số vùng trồng

Mã số vùng trồng định danh cho một vùng trồng nhằm theo dõi tình trạng sản xuất, kiểm soát sinh vật gây hại và truy xuất nguồn gốc nông sản. Trước yêu cầu truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn chất lượng ngày càng khắt khe, việc xây dựng và quản lý mã số vùng trồng đang trở thành yếu tố then chốt giúp nông sản Sơn La nâng cao giá trị và mở rộng thị trường. Đây cũng là bước chuyển trong tư duy sản xuất, hướng tới nền nông nghiệp xanh, bền vững và có trách nhiệm.

Vùng trồng nhãn tại xã Chiềng Khoong được quản lý theo quy trình sản xuất an toàn, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu. 

Với 2 mã số vùng trồng xoài phục vụ xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, trước mỗi lần bón phân, phun thuốc hay thu hoạch, các thành viên HTX Nông nghiệp an toàn Chiềng Hặc đều ghi chép đầy đủ thông tin vào nhật ký sản xuất. Công việc tưởng chừng đơn giản nhưng lại là yêu cầu bắt buộc để duy trì mã số vùng trồng và đáp ứng các tiêu chuẩn phục vụ xuất khẩu. Ông Hà Văn Sơn, Giám đốc HTX Nông nghiệp an toàn Chiềng Hặc, cho biết: HTX hiện có 64 thành viên, canh tác gần 160 ha xoài. Toàn bộ quá trình chăm sóc, sử dụng vật tư nông nghiệp và thu hoạch đều được ghi chép đầy đủ để phục vụ truy xuất nguồn gốc.

Công tác quản lý mã số vùng trồng đang trở thành hướng đi chung của nhiều địa phương trong tỉnh, gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng và truy xuất nguồn gốc nông sản. Tại xã Yên Châu, địa phương hiện duy trì 4 mã số vùng trồng đối với cây xoài và nhãn, tổng diện tích 65 ha. Ông Nguyễn Văn Hưởng, Phó Chủ tịch UBND xã Yên Châu, cho biết: Thời gian qua, xã tập trung duy trì ổn định các vùng trồng đã được cấp mã số, đồng thời phối hợp với Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật hướng dẫn kỹ thuật, kiểm tra, giám sát điều kiện sản xuất tại các vùng trồng. Qua đó, kịp thời tháo gỡ khó khăn trong quá trình thực hiện và nâng cao hiệu quả quản lý mã số vùng trồng trên địa bàn.

Việc xây dựng, duy trì mã số vùng trồng đã làm thay đổi nhận thức của người dân về sản xuất nông nghiệp an toàn và bền vững. Từ sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, nhiều hộ đã chuyển sang sản xuất theo quy trình, coi trọng chất lượng, an toàn thực phẩm và khả năng truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Đến nay, toàn tỉnh duy trì 216 mã số vùng trồng với tổng diện tích hơn 2.833 ha. Trong đó, có 200 mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu với diện tích trên 2.654 ha và 16 mã số vùng trồng phục vụ tiêu thụ trong nước. Các mã số vùng trồng được cấp cho nhiều sản phẩm chủ lực, như: Nhãn, xoài, chuối, mận, mắc ca, thanh long và chanh leo. Nhiều vùng trồng đã đáp ứng yêu cầu xuất khẩu sang các thị trường lớn, như: Trung Quốc, Hoa Kỳ, Australia, New Zealand và Liên minh châu Âu.

Giữ chắc “tấm hộ chiếu” xuất khẩu

Mã số vùng trồng hiện được ví như “tấm hộ chiếu” để nông sản Sơn La tham gia thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, quá trình triển khai quản lý mã số vùng trồng trên thực tế vẫn còn nhiều khó khăn, một số mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói xuất khẩu chưa có đơn hàng thường xuyên nên việc duy trì các điều kiện kỹ thuật, đặc biệt là ghi chép nhật ký sản xuất, cập nhật hồ sơ truy xuất nguồn gốc chưa được thực hiện đầy đủ.

Các đại biểu cắt băng khởi hành đưa xoài Yên Châu đi tiêu thụ và xuất khẩu.

Ông Nguyễn Lê Điệp, Giám đốc Công ty TNHH Đầu tư Thương mại Tiến Ngân, tỉnh Phú Thọ, đơn vị ký kết hợp đồng thu mua xoài xuất khẩu với các HTX trên địa bàn tỉnh Sơn La, cho biết: Các thị trường nhập khẩu hiện nay thường xuyên kiểm tra, giám sát việc duy trì các điều kiện của mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói. Do đó, các vùng nguyên liệu đã được cấp mã số cần thực hiện nghiêm việc ghi chép nhật ký sản xuất, quản lý vật tư nông nghiệp và cập nhật hồ sơ truy xuất nguồn gốc, kể cả trong thời gian chưa có đơn hàng xuất khẩu. Nếu không duy trì đầy đủ các điều kiện theo quy định, mã số vùng trồng có thể bị cảnh báo hoặc tạm dừng hoạt động, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng xuất khẩu của nông sản địa phương.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin và cập nhật dữ liệu trên nền tảng số của một số chủ thể mã số vùng  trồng còn hạn chế. Việc phê duyệt, phản hồi mã số vùng trồng từ phía nước nhập khẩu chưa có thời hạn cụ thể, nhiều trường hợp kéo dài thời gian xử lý, ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất và xuất khẩu của doanh nghiệp. Ngoài ra, một số cây trồng chủ lực của tỉnh, như: Mận, hồng giòn hiện chưa có nghị định thư xuất khẩu, làm hạn chế cơ hội mở rộng thị trường.

Một khó khăn khác là hiện nay, Sơn La chưa có phòng kiểm nghiệm đạt tiêu chuẩn để thực hiện đầy đủ các chỉ tiêu phân tích phục vụ quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm và xuất khẩu nông sản. Việc phải gửi mẫu đến các cơ quan kiểm nghiệm Trung ương hoặc các tỉnh khác khiến thời gian trả kết quả kéo dài, chi phí kiểm nghiệm tăng cao, ảnh hưởng đến tiến độ hoàn thiện hồ sơ xuất khẩu, cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Cán bộ kỹ thuật Trung tâm Khuyến nông và Chuyển đổi số kiểm tra việc tuân thủ quy trình sản xuất tại vùng trồng xoài xã Chiềng Hặc.

Bà Lưu Thanh Nga, Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, cho biết: Đơn vị đã tham mưu UBND tỉnh kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường hỗ trợ hướng dẫn chuyên môn, định hướng mô hình tổ chức và danh mục chỉ tiêu kiểm nghiệm phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh; hỗ trợ đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực cán bộ kiểm nghiệm; chuyển giao quy trình phân tích đối với các nhóm chỉ tiêu phục vụ xuất khẩu. Đồng thời, quan tâm bố trí nguồn lực đầu tư trang thiết bị kiểm nghiệm trọng điểm và làm việc với các nước nhập khẩu nhằm đẩy nhanh tiến độ phê duyệt mã số vùng trồng, nhất là đối với thị trường Trung Quốc.

Ngành Nông nghiệp tiếp tục rà soát, chuẩn hóa quy trình quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói; thực hiện tiếp nhận, giải quyết hồ sơ cấp mới, cấp lại, thu hồi mã số bảo đảm đúng quy định. Hướng dẫn các chủ thể hoàn thiện hồ sơ chuyển đổi sang định dạng mã số chuẩn quốc gia; cập nhật cơ sở dữ liệu số hóa về mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói để tích hợp đồng bộ với hệ thống truy xuất nguồn gốc quốc gia; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý, giám sát và truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Mã số vùng trồng không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà còn là “tấm hộ chiếu” đưa nông sản Sơn La đến với những thị trường lớn, có giá trị cao. Việc quản lý và duy trì hiệu quả các mã số vùng trồng sẽ góp phần nâng cao chất lượng nông sản, xây dựng thương hiệu và tạo nền tảng cho xuất khẩu bền vững trong những năm tới.

Nguyễn Yến
BÌNH LUẬN

Bạn còn 500/500 ký tự

Bạn vui lòng nhập từ 5 ký tự trở lên !!!

Tin mới