Trang chủ

Tư tưởng lấy dân làm gốc của Bác Hồ soi sáng hôm nay

Quan điểm “Dân là gốc-thước đo cao nhất của mọi quốc sách” của Đảng ta đang kết trái nhiều thành tựu đầy hứa hẹn là nhờ đã kế thừa tư tưởng của Bác Hồ-nhà cách mạng vĩ đại suốt đời đau đáu một chữ "dân". Ngày 5-4-1948, Bác viết bài báo lịch sử "6 điều không nên và 6 điều nên làm", mở đầu bài viết là chân lý: "Nước lấy dân làm gốc".

 “Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”

Không chỉ nói về thời hiện tại, câu thơ ấy còn là sự tổng kết lịch sử được lắng đọng, kết tinh từ huyền thoại. Thánh Gióng là câu chuyện về việc đuổi giặc. Chi tiết Gióng “ăn bảy nong cơm, ba nong cà...” chính là nói về “mã hậu cần” trong chiến tranh rất quan trọng và tốn kém. Đây là câu chuyện cổ sớm nhất nói về chuyện cung ứng, từ lương thực, thực phẩm (cơm, cà, nước), quân nhu (dân làng góp của, góp công dệt vải may áo) đến “quân phục”, phương tiện di chuyển, vũ khí (ngựa sắt, áo giáp sắt, roi sắt). Gióng sinh ra từ dân. Mẹ Gióng là nông dân, “thai nghén” Gióng từ “vườn cà”. Gióng “vươn vai lớn bổng khác thường” là nhờ dân. Thắng giặc, Gióng bay lên trời cũng là nhờ dân, do dân, vì dân. Huyền thoại toát lên một nguyên lý chung về sự phát triển: Chỉ có thể “bay lên” khi đất nước hòa bình, không có chiến tranh, không còn giặc giã. Muốn có hòa bình phải nhờ sức dân. Từ miền thượng nguồn thần thoại chảy ra dòng sông “ngụ binh ư nông” (khi có giặc, toàn dân làm lính; thời bình, lính về làm nông dân) mang đặc trưng văn hóa quân sự giữ nước Việt Nam được nhiều thời đại tiếp thu, vận dụng rất thành công. Đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện ở thời đại Hồ Chí Minh cũng bắt từ mạch nguồn này.

Tư tưởng lấy dân làm gốc của Bác Hồ soi sáng hôm nay
 Tư tưởng lấy dân làm gốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh minh họa: tapchilichsudang.vn

Hiện trong quần thể Đền thờ Trần Hưng Đạo (Quảng Yên, Quảng Ninh) có cả Miếu thờ Vua Bà. Tương truyền, được bà hàng nước nói về con nước thủy triều lên xuống, Trần Hưng Đạo đã hoàn thiện kế sách làm nên chiến thắng lẫy lừng năm 1288. Có thể bà hàng nước không có thật nhưng sự ủng hộ, giúp đỡ của dân là có thật. Huyền thoại đã nâng người dân bình thường nhất thành biểu tượng, “thiêng hóa” rồi “phong thánh” thành “Vua Bà”. 

 “Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” là đạo lý truyền thống, là chân lý lịch sử, là nguyên lý thắng lợi của muôn đời.

Quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân

Nhiều nhà nghiên cứu quốc tế ngạc nhiên, ở nước Việt Nam tiểu nông, từ thế kỷ 15, Nguyễn Trãi đã đưa ra khái niệm dân tộc, gồm 6 thành tố cơ bản: Dân (việc nhân nghĩa cốt ở yên dân); tên nước (như nước Đại Việt...); văn hiến (vốn xưng nền văn hiến...); lãnh thổ (núi sông bờ cõi...); phong tục (phong tục Bắc Nam...); lịch sử (từ Triệu, Đinh, Lý...). “Dân” là yếu tố đầu tiên, quyết định. Dễ hiểu, Nguyễn Trãi có một quan niệm nhân nghĩa, trọng dân, vì dân rất đáng quý. Mạch nguồn quý dân đã có trong đạo Nho, nhưng đến Nguyễn Trãi vẫn mới: “Lật thuyền mới biết dân như nước”. Bác Hồ học tập, kế thừa tư tưởng Nguyễn Trãi, vận dụng phù hợp vào thời đại mới: “Quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.

Xuất phát từ quan niệm “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”, Bác dạy cán bộ tin dân: “Dân rất thông minh. Quần chúng kinh nghiệm, sáng kiến rất nhiều. Chỉ cần mình có biết học hay biết lợi dụng mà thôi”. Ở một lớp huấn luyện chuẩn bị khởi nghĩa năm 1945, Bác giảng bài, một đồng chí hỏi: “Ở miền núi lấy núi rừng làm căn cứ địa. Đồng bằng không có địa hình hiểm trở thì sao ạ?”. Bác trả lời: “Có núi dựa vào núi, có sông dựa vào sông, không có núi, có sông thì dựa vào người làm sông núi... Ở đâu có người là ở đó có núi rừng, có biển cả, ta phải tổ chức, động viên sức mạnh của quần chúng thành rừng, thành biển mà dựa vào...”. Làm cách mạng phải lấy lòng dân làm “căn cứ địa”. Tư tưởng ấy đã có từ khi Bác mới bước chân vào con đường cứu nước: “Ý chí của nhân dân-một ý chí đã được hun đúc trong nghèo đói và khổ cực-một ý chí còn mạnh hơn và dẻo dai hơn sóng cả, cuối cùng sẽ khoét hổng dần và đánh bật cái tảng đá bề ngoài có vẻ vững chắc là sự áp bức và bóc lột kia đi”.

Phải đền bù xứng đáng cho nhân dân

Là người khai sinh, lãnh đạo và dìu dắt Đảng ta, Bác Hồ khẳng định: “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác”. Người nhắc nhở cán bộ qua những hình tượng cụ thể nhất: Cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng, đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra. Vì vậy, chúng ta phải đền bù xứng đáng cho nhân dân. Thế giới ca ngợi Bác là một trong những lãnh tụ vì con người nhất. Sau ngày Bác đọc Tuyên ngôn độc lập (2-9-1945) nước ta sa vào tình trạng kiệt quệ, vận nước mong manh, nhưng Bác vẫn ưu tiên hai nhiệm vụ cấp bách: Diệt giặc đói, diệt giặc dốt. Đó là tinh thần nhân văn cao cả, là tầm trí tuệ kiệt xuất trên cơ sở một tình yêu nước, thương dân lớn lao. Trong Di chúc, Bác đề nghị miễn thuế nông nghiệp một năm để nông dân “hỉ hả, mát dạ, mát lòng...”. 

Trao gửi niềm tin tuyệt đối, kính trọng tuyệt đối cũng là cách “đền bù”. Bác dặn Đảng ta: Tất cả lực lượng của đoàn thể và Chính phủ đều ở nơi dân. Cho nên việc gì có quần chúng tham gia bàn bạc, khó mấy cũng trở nên dễ dàng và làm được tốt.

Quan niệm của Bác luôn biện chứng, hữu cơ: “Chính phủ Cộng hòa dân chủ là gì? Là đày tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng. Dân là chủ thì Chính phủ phải là đày tớ. Làm việc ngày nay không phải là để thăng quan, phát tài. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ. Nhưng khi dân dùng đày tớ làm việc cho mình, thì phải giúp đỡ Chính phủ. Nếu Chính phủ sai thì phải phê bình, phê bình nhưng không phải là chửi”. Chỉ mấy câu ngắn nhưng Bác đã 3 lần nhắc đến hai chữ “đày tớ” để nhấn mạnh bổn phận của Chính phủ. Hai lần nhắc đến hai chữ “phê bình” là nói về trách nhiệm của dân phải phê bình đúng đắn, nghiêm túc để Chính phủ tiến bộ. Lời dạy ấy hôm nay phải được thấm nhuần đến mỗi cán bộ, mỗi người dân!

Cán bộ là cái gốc của mọi công việc

Đảng ta chủ trương lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá cán bộ là hoàn toàn đúng đắn. Trên thực tế, người dân có thể chưa hiểu sâu sắc đường lối, nghị quyết, nhưng qua tiếp xúc, làm việc với “cán bộ nhà nước”, họ sẽ có thái độ cụ thể về/với Nhà nước. Cán bộ công sở là “sứ giả” của Nhà nước nhưng là “công bộc” của dân. Nhà nước và dân là một, thì vai trò, trách nhiệm cán bộ công sở phải tăng gấp đôi, phải hiểu đường lối, chính sách, công việc Nhà nước, đồng thời phải trung thành, tận tụy với dân. Dân chưa hiểu, phải nói rõ. Dân chưa bằng lòng, phải hết mình.

Nếu văn hóa là bộ mặt của đất nước thì con người là bộ mặt của văn hóa, là gương mặt của chế độ. Văn hóa công sở không chỉ là các quy định hình thức mà là nền tảng quyết định hiệu quả quản trị, chất lượng công việc, là hình ảnh của cả một bộ máy nhà nước trước dân, rộng hơn là trước thế giới. Triết học văn hóa của thế giới hôm nay khuyến nghị để có một đối thoại văn hóa phải có hai yếu tố cơ bản là hiểu (tri thức đầy đủ, sâu sắc về nội dung đối thoại và đối tượng giao tiếp) và yêu (đồng cảm, tôn trọng, trân trọng, biết lắng nghe). Cán bộ công sở là người thay mặt Nhà nước đối thoại với dân, với doanh nghiệp, với quốc tế. Xu hướng chung của thế giới trong thời chuyển đổi số coi cán bộ công sở, về cơ bản phải bảo đảm: Chuẩn mực trong đạo đức công vụ; linh hoạt trong phong cách làm việc; tinh thần trách nhiệm cao. Một Nhà nước dân chủ, văn minh, ngoài quản trị bằng luật pháp còn thể hiện ở văn hóa làm việc khoa học, minh bạch, chuyên nghiệp, liêm chính, nhân văn. Điều ấy thể hiện “trực quan” qua người cán bộ. Xin giới thiệu để tham khảo mô hình đào tạo con người công sở ở một số nước tiên tiến (tiêu biểu của văn hóa châu Á là Nhật Bản), về tri thức: Trình độ học vấn cao, có năng lực tư duy số, kỹ năng số; về hành vi “biết”: Mỉm cười, nhẹ nhàng, ân cần, thấu hiểu; về lời nói “xin”: Xin chào, xin phép, xin lỗi, cảm ơn.

Theo QĐND
BÌNH LUẬN

Bạn còn 500/500 ký tự

Bạn vui lòng nhập từ 5 ký tự trở lên !!!

Tin mới

  • 'Khi đồng bào dân tộc làm chủ không gian số

    Khi đồng bào dân tộc làm chủ không gian số

    Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong xúc tiến thương mại, ngành Công Thương Sơn La tích cực hỗ trợ các hợp tác xã, hộ sản xuất vùng đồng bào dân tộc thiểu số nâng cao kỹ năng kinh doanh, quảng bá sản phẩm trên các nền tảng số và sàn thương mại điện tử. Qua đó, giúp nông sản địa phương tiếp cận người tiêu dùng rộng rãi hơn, đa dạng hóa kênh tiêu thụ, mở rộng thị trường, nâng cao giá trị sản phẩm.
  • 'Người gieo trái ngọt trên đất dốc

    Người gieo trái ngọt trên đất dốc

    Gương sáng bản làng -
    Từ những nương ngô, nương lúa hiệu quả kinh tế thấp, bằng sự cần cù, không ngừng học hỏi, ông Hàng A Sở, tổ dân phố Pa Khen, phường Thảo Nguyên đã mạnh dạn chuyển đổi sang trồng cây ăn quả cho thu nhập hàng tỷ đồng mỗi năm, làm giàu cho gia đình, tạo việc làm cho nhiều lao động địa phương.
  • 'Đồng bào La Ha làm theo lời Bác

    Đồng bào La Ha làm theo lời Bác

    Xã Chiềng La hiện có 4.154 hộ với gần 20.100 nhân khẩu, trong đó, đồng bào dân tộc La Ha chiếm khoảng 7,7% dân số toàn xã, chủ yếu sinh sống tại các bản: Song, Huổi Lọng, Phiêng Nong. Khắc ghi lời căn dặn của Bác Hồ, đồng bào La Ha đã thay đổi nếp nghĩ, cách làm, vươn lên làm giàu và chung tay xây dựng nông thôn mới.
  • 'Đối thoại tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp

    Đối thoại tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp

    Kinh tế -
    Với chủ đề “Đột phá thể chế - Hợp lực công tư”, Phiên đối thoại địa phương Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2026 tại Sơn La là dịp để cộng đồng doanh nghiệp trao đổi trực tiếp với các cơ quan quản lý nhà nước, đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh.
  • 'Vai trò dẫn dắt xây dựng hợp tác xã kiểu mới

    Vai trò dẫn dắt xây dựng hợp tác xã kiểu mới

    Xã hội -
    Bám sát định hướng về phát triển mô hình hợp tác xã kiểu mới, những năm qua, Liên minh Hợp tác xã tỉnh đã tích cực phát huy vai trò dẫn dắt, đồng hành cùng các hợp tác xã đổi mới tư duy, ứng dụng công nghệ và mở rộng thị trường, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
  • 'Mường Chanh vào vụ cà phê

    Mường Chanh vào vụ cà phê

    Nông nghiệp -
    Những ngày này, trên những sườn đồi cà phê chín đỏ, nông dân xã Mường Chanh đang khẩn trương thu hái, các cơ sở sản xuất, kinh doanh cũng đẩy mạnh thu mua, chế biến, góp phần nâng cao giá trị và phát triển cây cà phê bền vững.
  • 'Khởi sắc Chiềng Hặc

    Khởi sắc Chiềng Hặc

    Nông thôn mới -
    Diện mạo trung tâm xã Chiềng Hặc ngày càng khang trang với hệ thống vỉa hè được cải tạo, thoát nước được nâng cấp và đèn chiếu sáng sử dụng năng lượng mặt trời được lắp đặt dọc quốc lộ 6. Các công trình hoàn thành, đưa vào sử dụng đã góp phần bảo đảm an toàn giao thông, cải thiện điều kiện sinh hoạt của người dân, tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, dịch vụ, từng bước hoàn thiện hạ tầng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương.