Trang chủ

Như những tượng đài

Có một điều gì đó cứ thôi thúc tôi cầm bút viết về anh, về bạn bè tôi - những người chiến sỹ đã anh dũng hy sinh trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước oanh liệt.

 

Bên rặng tếch năm xưa, thành phố Sơn La giờ đã đổi mới.

 

Tháng 5/1972, chúng tôi - những chàng trai 17, 18 tuổi, học sinh Trường cấp 3 Mai Sơn đã viết đơn tình nguyện bằng máu, hăm hở lên đường nhập ngũ. Bốn anh em cùng trường chúng tôi được phân công về Phòng Tham mưu (Bộ CHQS tỉnh). Ngày đó, Tỉnh Đội Sơn La đặt đại bản doanh tại khu nhà ba tầng (nay là trụ sở của Liên đoàn Lao động tỉnh). Ngày nào cũng vậy, đúng 5 giờ sáng, tiếng còi trực ban khua chúng tôi dậy, hôm thì chạy bộ 10 vòng quanh chợ Rặng Tếch, những cây Tếch đã có tự bao giờ và cũng không nhỏ hơn nhiều so với hiện nay. Có hôm thì đầy đủ súng đạn tư trang, chạy theo đội hình dọc đường Tô Hiệu (hiện nay) qua cầu gỗ, chợ lớn, cầu sắt đến bản Lầu… rồi dừng chân dưới gốc mít cạnh nhà ba tầng của Sở Chỉ huy để nghe nhận xét và giao nhiệm vụ trong ngày.

Sau gần một tháng trong quân ngũ, vào một ngày đầu tháng 6, sáng đó trời mùa hè nóng oi ả, hàng cây tếch, cây mít lặng im không một chút gió… Bỗng tiếng kẻng báo động phòng không vang lên. Chúng tôi chộp lấy những khẩu CKC, K44 lao ra các ụ súng ngoài chiến hào, tiếng mở chốt an toàn lạch cạch, ánh mắt cùng hướng về trận địa pháo Đồi Châu và đồi Khí tượng... Sẵn sàng nhả đạn theo hiệp đồng lưới phòng không; một vài chiếc máy bay F105 thần sấm, con ma của Mỹ... bay lảng vảng phía xa, nghiêng ngó vào Thị xã. Mảnh đất nhỏ bé mà chúng đã dội trăm tấn bom đạn, san bằng - hủy diệt... bom chồng lên bom, đã có người chết, nhà cửa, trường học không một nơi nào nguyên vẹn. Nhưng chúng đã phải trả giá trước sự anh dũng chiến đấu của quân và dân các dân tộc, hơn 60 máy bay Mỹ đã tan xác trên bầu trời Sơn La.

Ba giờ chiều cùng ngày, bốn anh em cùng nhập ngũ được thông báo: Trang phục chỉnh tề, tối nay nhận nhiệm vụ đặc biệt. Khoảng 21 giờ, bốn chúng tôi đeo súng lên tầng ba, phòng họp của Bộ Chỉ huy, bước vào phòng trong ánh sáng mờ mờ của thời kỳ phòng không tránh máy bay Mỹ, trong khói hương nghi ngút, hiện ra chiếc quan tài màu đỏ được phủ quân kỳ, chỉ có nến, một bát nhang làm từ thân cây chuối, không ảnh của người quá cố... Bồng súng, chúng tôi đứng nghiêm ở bốn góc cùng một số sĩ quan túc trực bên linh cữu... đêm đó thật dài.

Sáng hôm sau, gần như đầy đủ cán bộ, chiến sỹ của cơ quan Tỉnh Đội, cùng với gia đình tổ chức Lễ truy điệu. Tôi chỉ còn nhớ, anh tên là Chính, sỹ quan công binh, hóa học, hy sinh trong lúc làm nhiệm vụ tháo bom hóa học của máy bay Mỹ ném xuống khu vực giáp ranh giữa Yên Châu và Mộc Châu... Chiếc xe tải nhà binh không mui bạt, không vòng hoa, kèn, trống, chở anh cùng chúng tôi và gia đình lắc lư trên đoạn đường sỏi đá, gồ ghề bên những hố bom loang lổ khu vực Cầu Trắng lăn bánh về phía Huổi Hin.

-Anh ơi... Anh Chính ơi... Người đàn bà nhỏ đội khăn tang chồng với nỗi đau quá lớn, quá bất ngờ, gọi tên anh, tiếng gọi vang vọng vách núi trong thung lũng nhỏ như mũi kim xuyên vào lòng người lính. Chị lao vào như muốn ôm anh lần cuối và nghẹn ngào. Hai đứa con của anh chị, cháu gái lớn khoảng 7-8 tuổi vật vã ôm lấy mẹ gọi: Bố ơi... Còn đứa bé khoảng 6-7 tháng tuổi, ngơ ngác trong vòng tay và nước mắt của mấy cô bộ đội.

Ba tháng sau, chúng tôi hành quân ra chiến trường chiến đấu. Hai bạn về Sư đoàn 335 vùng cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng, còn hai chúng tôi biên chế vào Tiểu đoàn 428, sau này là Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 82, Quân khu Tây Bắc, quân tình nguyện giúp bạn Lào vùng Nậm Bạc - Luông Pha Băng. Những lúc gian khổ ở Nặm U, Nậm Xương mùa mưa lũ; những máu đổ, hy sinh của đồng đội ở những trận đánh ác liệt trên dãy Pu-Xen-Thông, Phu-Pha-Nốc, Cao điểm 799... không làm chúng tôi nản lòng. Nhất là hình ảnh đau đớn của người vợ, hình ảnh thơ ngây của con trẻ trong đám tang người lính trước đó dường như là sức mạnh cho chúng tôi vững tay súng ở chiến trường và bước đường công tác sau này.

Sau chiến thắng mùa xuân 1975, đất nước hòa bình và thống nhất, tôi được xuất ngũ về mảnh đất Sơn La. Bốn chúng tôi cùng nhập ngũ ngày nào, thì hai đã hy sinh và một là thương binh, riêng tôi may mắn trở về nguyên vẹn. Năm tháng qua đi, cuộc sống hồi sinh từ hủy diệt của bom đạn năm nào đã bừng dậy tươi đẹp... Gốc mít, hàng tếch năm xưa vẫn còn đó, xào xạc qua bao mùa lá rụng nhường cho những trồi non, lá biếc thêm xanh. Nhà ba tầng của Bộ Chỉ huy ngày ấy, nay đã được sửa sang, hiện là nơi đứng chân của Liên đoàn Lao động tỉnh, xunh quanh đường hào, ụ súng năm nào giờ là Trường Văn hóa nghệ thuật, Trung tâm Văn hóa... lúc nào cũng rộn rã tiếng cười, tiếng nhạc, hát ca. Con đường mà trước đây chúng tôi hay chạy vũ trang và xe tiễn đưa, tiễn biệt người chiến sỹ năm xưa... giờ thênh thang, nhà cửa, công viên khang trang, ríu rít tiếng nô đùa của trẻ nhỏ...

Bốn mươi lăm năm trôi qua, tôi còn chưa biết tên chị, người vợ liệt sỹ, cũng không nhớ rõ họ và quê quán của anh, nhưng tin tưởng rằng trong dòng chảy lịch sử đi lên, trong dòng người cuộc sống hôm nay đã có bao hình bóng chị, hình bóng đồng đội - những con người giản dị, đã hy sinh vì đất nước, sẽ còn được nhắc mãi và trở thành những tượng đài trong lòng chúng ta.

Lê Phúc

BÌNH LUẬN

Bạn còn 500/500 ký tự

Bạn vui lòng nhập từ 5 ký tự trở lên !!!

Tin mới