Từ những gốc Arabica lặng lẽ cắm rễ trên vùng đất sương giăng, cà phê Sơn La đã tạo nên một cuộc “sang trang” ngoạn mục, bước ra khỏi lối canh tác nhỏ lẻ để vươn mình trở thành nông sản chủ lực, chinh phục những thị trường khắt khe bậc nhất thế giới. Đó là hành trình của những bước chuyển mình từ bán thô sang chế biến sâu, từ cà phê đại trà đến đỉnh cao đặc sản, từ khát vọng của người trồng đến tư duy chuỗi giá trị toàn cầu. Loạt bài 5 kỳ “Khát vọng Arabica Sơn La – Vươn tầm thế giới” đưa bạn đọc nhìn lại toàn bộ chặng đường lịch sử qua từng dấu mốc, từng nhân chứng thầm lặng và khát vọng cháy bỏng đưa thương hiệu cà phê Sơn La vươn xa.
Ngược dòng thời gian về những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, ít ai hình dung những đại ngàn cà phê xanh ngút ngàn hôm nay tại Sơn La lại từng bắt đầu từ vài trăm héc-ta lưa thưa và sự bỡ ngỡ của những nông dân lần đầu chạm tay vào loại cây trồng mới. Đã có một thời, hạt cà phê làm ra được đong đếm, quy đổi trực tiếp thành từng cân gạo ấm bụng. Chính cái ăn, cái mặc sát sườn ấy đã trở thành "mồi lửa" để nông dân dũng cảm đưa cây cà phê phủ xanh những triền nương dốc, mở đầu cho một cuộc chuyển đổi cây trồng ở Sơn La.
Những ngày đầu bén rễ
Sơn La là miền đất của núi cao, cao nguyên và những thung lũng nối tiếp nhau giữa vùng Tây Bắc. Địa hình chia cắt tạo nên nhiều tiểu vùng khí hậu, nơi có những mùa đông lạnh, mùa hè dịu hơn so với nhiều vùng thấp và những triền đồi rộng mở. Chính sự khác biệt của đất đai, khí hậu ấy đã tạo cho Sơn La những vùng sinh thái phù hợp với cây cà phê Arabica - giống cà phê vốn ưa khí hậu mát và từ lâu đã tìm được chỗ đứng trên vùng đất này.
Tháng 9, trên những vùng cà phê của Sơn La, quả bắt đầu chuyển màu, báo hiệu mùa thu hoạch đang đến gần. Trên những triền đồi ở Chiềng Mai, Chiềng An, Chiềng Cơi, Muổi Nọi..., màu xanh của những nương cà phê đã trở nên quen thuộc. Nhưng để có những vùng cà phê trải dài hôm nay là hành trình nhiều thập niên, bắt đầu từ những cây cà phê đầu tiên được người dân đưa về trồng trong vườn nhà.
Dấu tích cây cà phê trên đất Sơn La có từ khá sớm. Tư liệu về lịch sử phát triển cà phê của tỉnh còn ghi câu chuyện năm 1945, ông Lò Văn Chiêng, bản Phiêng Quài, xã Chiềng Ban, huyện Mai Sơn, nay là xã Chiềng Mai, trong một chuyến đi đã mang vài cây cà phê về trồng trong vườn nhà. Những năm sau, gia đình tiếp tục nhân thêm vài chục cây. Khi ấy, cà phê mới chỉ trồng nhỏ lẻ trong vườn hộ, chưa hình thành sản xuất hàng hóa.
Có một câu chuyện nữa, được chúng tôi tìm hiểu khi tỉnh Sơn La cùng cả nước bắt tay vào công cuộc đổi mới. Cuốn hồi ký của Ông Lường An, nguyên là Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La, Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hội, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh khóa VIII. Đây là giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới (từ năm 1987 đến năm 1996). “Giấc mơ 4 vạn và hành trình đổi mới” được ông ghi chép khá tỉ mỉ: “Giấc mơ 4 vạn”, đó là đề xuất trồng 1 vạn ha cà phê, 1 vạn ha chè, 1 vạn ha dâu tằm và 1 vạn con bò sữa. Tỉnh Sơn La đã tham khảo ý kiến các nhà khoa học, các Viện nghiên cứu của Bộ Nông nghiệp đánh giá.
Đề án lớn được Tỉnh ủy Sơn La thông qua và đưa vào triển khai thực hiện. Trong hành trình để đạt “giấc mơ 4 vạn”, hàng loạt các vấn đề phát sinh đan xen liên quan đến phong tục tập quán, đời sống, sinh kế của người nông dân mà tỉnh ta phải triển khai trên các lĩnh vực. Thời điểm đó, tỉnh ta đã ban hành nhiều chủ trương, như “triệt phá cây thuốc phiện”; “cấm thả rông gia súc”. Gắn liền với đó là chính sách hỗ trợ chuyển đổi cây trồng đã triển khai, cây cà phê được phát triển mạnh ở vùng cao nguyên Nà Sản.
Những quyết sách lớn của tư duy đổi mới đã đưa cà phê vượt qua những khó khăn để từng bước hình thành và phát triển. Phải đến cuối những năm 1980, cây cà phê mới bước vào giai đoạn phát triển có tổ chức. Nhận thấy điều kiện khí hậu, đất đai phù hợp với cà phê chè Arabica, tỉnh đã chủ trương phát triển loại cây này thành cây hàng hóa. Tháng 11/1987, Công ty Chè - Cà phê Sơn La thành lập, có nhiệm vụ đầu tư phát triển, kinh doanh, chế biến, xuất khẩu chè, cà phê và dâu tằm. Ngày 12/3/1988, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 80/UB-QĐ về cho các thành phần kinh tế vay đất phát triển cà phê xuất khẩu.
Đầu thập niên 1990, diện tích cà phê tỉnh Sơn La mới đạt vỏn vẹn 278 ha, nhưng đã mở ra bước ngoặt chiến lược, chuyển từ canh tác lương thực ngắn ngày sang phát triển cây công nghiệp hàng hóa dài ngày. Khi giống, kỹ thuật và chủ trương trồng cà phê tìm đến những sườn đồi trước đó chỉ trồng ngô, sắn, người dân bắt đầu học cách đào hố, giữ ẩm để "mở đất" trồng cà phê. Đó không chỉ là việc thay đổi một loại cây trồng, mà là cuộc cách mạng thay đổi tư duy, tập quán và phương thức sản xuất của những nông dân tiên phong.
Ông Vương Văn Hải, Chủ tịch Hội Cà phê Sơn La, nguyên Trưởng phòng Kỹ thuật Công ty Chè - Cà phê Sơn La thời điểm năm 1987, Giám đốc Công ty Cà phê Sơn La giai đoạn 2000-2012, nhớ lại: Những năm đầu phát triển cây cà phê, phần lớn người trồng là đồng bào dân tộc thiểu số, chưa quen với sản xuất hàng hóa. Tỉnh đã có các chính sách về đất đai, khuyến nông, đầu tư hạ tầng, hỗ trợ khi thiên tai, giá thị trường xuống thấp; đồng thời, định hướng hình thành vùng cà phê tập trung, chú trọng chế biến, bảo quản để ổn định sản xuất.
Thực tế đã chứng minh, trên mảnh đất dốc, cây trồng hàng hóa dài ngày hoàn toàn có thể vươn mình phát triển bền vững khi có định hướng đúng đắn, kỹ thuật bài bản và thị trường tiêu thụ phù hợp. Ông Hoàng Văn Chất, bản Củ, xã Chiềng Mai là một trong những người tiên phong đưa giống cà phê Catimor lên nương với 2 ha ban đầu. Trải qua bao thăng trầm từ biến động giá cả đến rét đậm, sương muối, gia đình ông vẫn kiên trì giữ đất, học hỏi kỹ thuật và mạnh dạn cải tạo, thay thế các diện tích già cỗi. Ông Chất chia sẻ: Khẳng định hướng đi bền vững, tư duy dám nghĩ, dám làm. Đến nay, quy mô vườn cà phê của gia đình đã phát triển lên 6 ha bằng giống THA1 chất lượng cao
Từ vài trăm hecta ban đầu, diện tích cà phê Sơn La từng bước vươn rộng qua từng mùa vụ. Giữa thời điểm đời sống nhân dân còn muôn vàn thiếu thốn, loại cây này được gửi gắm kỳ vọng trở thành đòn bẩy xóa đói giảm nghèo, cải thiện sinh kế bền vững. Tuy nhiên, để người dân vững tâm dành trọn đất đai và sức lực cho một cây trồng dài ngày, bài toán then chốt vẫn là đầu ra cho sản phẩm. Chính trong bối cảnh ấy, một câu chuyện lịch sử đầy ân tình đã ra đời và in sâu vào ký ức của bao thế hệ người trồng cà phê nơi đây - câu chuyện của một thời “cà phê đổi gạo”.
Một thời "cà phê đổi gạo"
Những năm đầu thập niên 1990, đời sống của nhiều gia đình còn khó khăn, lương thực, thực phẩm vẫn là nỗi lo thường trực. Cùng với hỗ trợ về giống, phân bón và kỹ thuật, chính sách thu mua cà phê gắn với bảo đảm lương thực đã tạo điều kiện để người dân đầu tư, mở rộng diện tích.
Cà phê khi ấy được phân loại để quy đổi. Một kg cà phê loại I đổi được 5 kg gạo; loại II là 4 kg; loại III là 3,2 kg và loại IV là 2,5 kg. Ngoài gạo, người trồng còn có thể đổi sản phẩm lấy cá khô và một số mặt hàng thiết yếu; nếu gia đình đã đủ lương thực có thể nhận tiền hoặc hàng hóa có giá trị tương đương. “Cà phê đổi gạo” vì thế trở thành ký ức của một giai đoạn đặc biệt trong quá trình cây cà phê bén rễ ở Sơn La.
Cùng gắn bó với cây cà phê từ những năm 1990, ông Nguyễn Huy Tưởng, thôn Hoàng Văn Thụ, xã Chiềng Mai vẫn vẹn nguyên ký ức về thời kỳ này. Ông Tưởng kể: Những ngày đầu, gia đình tôi được hỗ trợ phân bón để kiến thiết vườn cây, đến mùa thu hoạch, Công ty đến thu mua và quy đổi nông sản thành gạo, cá khô cùng các nhu yếu phẩm thiết yếu. Sự đồng hành kịp thời, thiết thực đã giải quyết bài toán lương thực và trở thành động lực để gia đình vững tin mở rộng diện tích, gắn bó bền chặt với cây cà phê qua nhiều thập niên.
Nhờ có đầu ra tiêu thụ ổn định, diện tích cà phê Sơn La tăng trưởng bứt phá từ 278 ha (năm 1990) lên 1.591 ha (năm 1995), 3.862 ha (năm 2000) và cán mốc 7.259 ha (năm 2010). Dù năng lực canh tác của người dân nâng cao, nhưng hành trình không ít gập ghềnh bởi dịch bệnh gỉ sắt, các đợt sương muối tàn phá, vườn cây già cỗi cùng những chu kỳ giá cả xuống thấp.
Vượt qua thử thách, diện tích cà phê tiếp tục mở rộng lên 10.621 ha (năm 2013) và 12.039 ha (năm 2016), chính thức khẳng định vị thế cây hàng hóa chủ lực. Tuy nhiên, sự phát triển nóng cũng làm bộc lộ những hạn chế của quy mô sản xuất nhỏ lẻ: Vùng trồng phân tán, liên kết lỏng lẻo, chất lượng thu hái chưa đồng đều và tỷ lệ chế biến sâu còn rất khiêm tốn.
Dù sở hữu vùng nguyên liệu lớn, phần lớn sản phẩm thời điểm đó vẫn xuất khỏi Sơn La dưới dạng cà phê thóc và nhân thô, khiến địa danh "Sơn La" chưa thể định hình rõ nét trên bản đồ thương mại. Đứng trước thực tế ấy, việc xác lập nguồn gốc, xây dựng và bảo hộ thương hiệu cho hạt cà phê Sơn La trở thành yêu cầu cấp thiết, mở ra một chương mới cho nông sản địa phương.
Hành trình của cà phê Sơn La không chỉ có những mùa quả ngọt, mà từng hằn sâu dấu vết của thiên tai, sương muối, dịch bệnh và những cuộc khủng hoảng giá khiến không ít nương vườn bị chặt bỏ. Nhưng chính trong gian khó, sự kiên trì của người dân, sự bám bản của cán bộ kỹ thuật và cam kết của doanh nghiệp đã giữ cho những nương Arabica tiếp tục xanh tươi.
Qua thời gian, cây cà phê đã hòa vào nhịp sống của các bản làng. Thu nhập từ những mùa quả chín giúp đồng bào ngói hóa nhà cửa, nuôi con ăn học và tái đầu tư sản xuất. Từ thế hệ mở đất “cà phê đổi gạo” năm xưa đến lớp nông dân trẻ hôm nay, tư duy sản xuất đã có bước nhảy vọt, không chỉ quan tâm đến năng suất mà bắt đầu làm chủ mã số vùng trồng, quy trình sơ chế, rang xay và đưa thương hiệu lên nền tảng số.
Từ 278 ha năm 1990, qua những mùa “cà phê đổi gạo”, cây cà phê từng bước trở thành cây hàng hóa chủ lực, gắn với sinh kế của nhiều hộ dân. Đặc biệt, tên gọi “Cà phê Sơn La” được bảo hộ chỉ dẫn địa lý - đã đánh dấu bước chuyển từ phát triển vùng nguyên liệu sang xây dựng giá trị và thương hiệu. Nhưng để thương hiệu ấy đứng vững, vùng cà phê không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào cách làm nhỏ lẻ. Một chương mới đã mở ra: Làm mới vườn cây, đổi cách sản xuất và gắn người trồng với HTX, doanh nghiệp trong chuỗi giá trị.
(Còn nữa)

-restored-copy.jpg)
Bạn còn 500/500 ký tự
Bạn vui lòng nhập từ 5 ký tự trở lên !!!