Trong bối cảnh phát triển dựa trên tri thức và đổi mới sáng tạo, TP Hồ Chí Minh đứng trước yêu cầu cấp thiết phải phát huy vai trò lực lượng nghiên cứu trẻ, qua đó nâng cao hiệu quả nguồn lực và tiềm lực khoa học-công nghệ, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững.
Nguồn lực dồi dào nhưng hiệu quả chưa tương xứng
Theo mục tiêu đến năm 2030 của TP Hồ Chí Minh, hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt khoảng 2,5% tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), trong đó hơn 60% đến từ nguồn xã hội hóa; khoảng 60% kết quả nghiên cứu được ứng dụng trong vòng 12 tháng; mỗi năm có hơn 3.500 bài báo quốc tế; đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đạt khoảng 60% tăng trưởng. Những mục tiêu này thể hiện quyết tâm đưa khoa học-công nghệ trở thành động lực chính của phát triển.
Thực tế cho thấy, TP Hồ Chí Minh đang sở hữu lợi thế nổi bật về nguồn lực khoa học-công nghệ. Theo Trung tâm Thông tin và Thống kê Khoa học-Công nghệ TP Hồ Chí Minh, thành phố hiện có hơn 21.000 nhân lực R&D, là địa phương có lực lượng nghiên cứu đông nhất cả nước; trong đó gần 70% dưới 45 tuổi, khoảng 33% dưới 35 tuổi. Mạng lưới hơn 100 trường đại học, cao đẳng và viện nghiên cứu, cùng hàng nghìn doanh nghiệp công nghệ đã và đang tạo nền tảng quan trọng cho hệ sinh thái khoa học-công nghệ. Đáng chú ý, lực lượng nghiên cứu tập trung chủ yếu ở khu vực đại học (trên 55%), với khoảng 76% có trình độ từ thạc sĩ trở lên là điều kiện thuận lợi để hình thành và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh.
![]() |
| Tìm hiểu và tham quan Trung tâm Đổi mới sáng tạo công nghiệp 4.0 (IIC) thuộc Trường Đại học Quốc tế Miền Đông. |
Tuy nhiên, hiệu quả mang lại vẫn chưa tương xứng với tiềm lực, mỗi năm thành phố đầu tư gần 1.700 tỷ đồng cho khoa học-công nghệ, nhưng tỷ lệ thương mại hóa kết quả nghiên cứu chỉ khoảng 5%. Nhiều đề tài vẫn dừng ở mức học thuật, chưa chuyển hóa thành sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể. Nguyên nhân là do khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng còn lớn; không ít đề tài chưa xuất phát từ nhu cầu thực tế của thị trường; sự liên kết giữa Nhà nước-nhà trường-doanh nghiệp còn lỏng lẻo; cơ chế tài chính và đặt hàng nghiên cứu chưa linh hoạt; thủ tục còn phức tạp...
Tạo động lực phát triển cho sáng tạo khoa học trẻ
Định hướng phát triển khoa học-công nghệ TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2026-2030, việc phát huy lực lượng nghiên cứu trẻ thông qua Chương trình “Vườn ươm sáng tạo khoa học và công nghệ trẻ” được xác định là giải pháp trọng tâm. Thực tế cho thấy, ở các lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học hay vật liệu mới, lực lượng nghiên cứu trẻ được xem là yếu tố quan trọng để rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến ứng dụng. Tuy vậy, họ vẫn đối mặt với nhiều rào cản về môi trường nghiên cứu, nguồn lực tài chính và sự hỗ trợ chuyên môn, khiến tiềm năng chưa được phát huy đầy đủ. Chương trình vườn ươm ra đời nhằm tháo gỡ những “nút thắt” này.
Điểm nhấn của chương trình là thiết kế một chuỗi hỗ trợ khép kín, xuyên suốt từ hình thành ý tưởng, thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ đến phát triển thành các đề tài, dự án quy mô lớn. Chương trình còn tạo điều kiện để các nhà khoa học trẻ định hình hướng nghiên cứu độc lập, từng bước xây dựng và phát triển các nhóm nghiên cứu tiềm năng.
PGS, TS Bạch Long Giang, Trưởng phòng Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành chia sẻ, xét ở tầm chiến lược, chương trình góp phần phát hiện, bồi dưỡng đội ngũ khoa học kế cận quan trọng của TP Hồ Chí Minh. Quá trình triển khai đề tài giúp các chủ nhiệm được rèn luyện toàn diện, từ xác định mục tiêu, lựa chọn phương pháp đến tổ chức thực hiện, quản lý nghiên cứu. Từ những đề tài “ươm mầm”, nhiều kết quả ban đầu đã được hình thành, tạo nền tảng cho công bố khoa học, phát triển sản phẩm, mở ra khả năng phát triển thành các nhiệm vụ cấp cao hơn.
Tác động của chương trình còn lan tỏa rộng tới các cơ sở nghiên cứu và toàn bộ hệ sinh thái khoa học-công nghệ. Các trường, viện có thêm điều kiện củng cố và phát triển nhóm nghiên cứu, mở rộng hướng tiếp cận, nâng cao năng lực quản lý; qua đó thúc đẩy hợp tác trong và ngoài nước, tăng cường liên kết giữa Nhà nước-nhà trường-doanh nghiệp, từng bước gắn hoạt động nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn.
Trong khi đó, GS, TS Huỳnh Kỳ Phương Hạ, Phó hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh cho rằng, chương trình cần được triển khai theo hướng duy trì ổn định, liên tục và từng bước mở rộng quy mô, qua đó tạo nền tảng bền vững cho lực lượng nghiên cứu trẻ phát triển lâu dài.
Để nâng cao hiệu quả, cần chú trọng công tác tổng kết, đánh giá một cách bài bản; hoàn thiện cơ chế theo hướng linh hoạt, cởi mở; thúc đẩy quốc tế hóa hoạt động nghiên cứu gắn với đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Bên cạnh đó, ưu tiên các nhiệm vụ có khả năng ứng dụng, gắn với các chương trình trọng điểm và có khả năng thương mại hóa. Việc phối hợp với địa phương trong đặt hàng nhiệm vụ sát thực tiễn, cùng với đẩy mạnh truyền thông nhằm lan tỏa kết quả nghiên cứu, cũng được xem là những giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả xã hội của hoạt động khoa học-công nghệ.

-restored-copy.jpg)
Bạn còn 500/500 ký tự
Bạn vui lòng nhập từ 5 ký tự trở lên !!!